Người ta thường hỏi liệu các con số trong các gia phả ở Sáng Thế Ký 5:3–32 và Sáng Thế Ký 11:10–32 có thể được dùng để tính toán thời điểm A-đam ra đời hay không. Điều quan trọng nhất cần lưu ý là các tác giả Kinh Thánh chưa bao giờ sử dụng những con số này cho mục đích đó, mặc dù họ đã cung cấp các tổng kết số liệu khác. Chẳng hạn, trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12:40, họ ghi chép rằng dân Y-sơ-ra-ên đã ở Ai Cập trong 430 năm, trong 1 Các Vua 6:1 rằng có 480 năm từ khi ra khỏi Ai Cập cho đến khi bắt đầu xây dựng đền thờ dưới thời Vua Sa-lô-môn, và trong Các Quan Xét 11:26 rằng có 300 năm từ khi vào đất hứa cho đến thời của Giép-thê, một quan xét sống vào khoảng năm 1100 TC.
Do đó, việc cộng các con số của mười người trước Đại Hồng Thủy trong Sáng Thế Ký 5 và mười người sau Đại Hồng Thủy trong Sáng Thế Ký 11 để xác định ngày tạo dựng thế giới và tạo dựng A-đam và Ê-va chính là làm điều mà văn bản không khuyến khích chúng ta làm!
Vậy thì ý nghĩa của những con số được ghi chép cẩn thận trong các văn bản này là gì? Nếu chúng không phải để cộng lại, thì việc đưa chúng vào có ý nghĩa gì?
-
Trước hết, chúng được đưa ra để cho chúng ta thấy rằng con người ban đầu được định sẵn là bất tử và sống mãi mãi. Nếu vẽ biểu đồ tuổi thọ trên một đồ thị đường thẳng, rõ ràng là có một xu hướng giảm rõ rệt, từ con số ban đầu dao động quanh mức gần 1.000 năm xuống con số gần với tuổi thọ trung bình của con người ngày nay, khoảng 70 năm.
-
Thứ hai, các con số này cũng cho thấy rằng tác động của tội lỗi và cái chết đối với cơ thể con người đã khiến con người không thể sinh con ở độ tuổi cao như trước đây.
Các Giám mục Lightfoot và Usher đã hoàn toàn sai lầm khi cho rằng loài người được tạo ra vào ngày 24 tháng 10 năm 4004 Trước Chúa, lúc 9 giờ 30 phút sáng, theo múi giờ kinh độ 45. Các dữ liệu không cho phép đưa ra kết luận này!
Việc tóm tắt là quy tắc chung trong các gia phả Kinh Thánh.
-
Ma-thi-ơ 1:8 đã bỏ qua ba cái tên giữa Vua Giô-ram và Ô-xi-a, A-ha-xi-a (2 Các Vua 8:25), Giô-ách (2 Các Vua 12:1) và A-ma-xi-a (2 Các Vua 14:1)
-
Trong Ma-thi-ơ 1:11, Ma-thi-ơ đã bỏ qua Giê-hô-gia-kim (2 Vua 23:34)
Mục tiêu của Ma-thi-ơ là rút gọn các gia phả thành ba nhóm gồm mười bốn người, vì mười bốn là con số của “Đa-vít”, D = 4, V hoặc chữ waw trong tiếng Hê-bơ-rơ = 6 và chữ D cuối cùng = 4, tổng cộng là 14.
Tuy nhiên, điều còn điển hình hơn nữa trong các gia phả là đoạn Ma-thi-ơ 1:1, nơi “Đức Chúa Giê-xu Christ” được cho là “con của Đa-vít”, người lại là “con của Áp-ra-ham”. Đa-vít sống vào khoảng năm 1000 TC và Áp-ra-ham vào khoảng năm 2000 TC. Những khoảng cách thời gian khổng lồ tương tự qua các thế hệ xen kẽ cũng xuất hiện trong Sáng Thế Ký 5 và Sáng Thế Ký 11.
Nếu đảo ngược Ma-thi-ơ 1:1 và viết theo phong cách của các gia phả tiền tổ phụ, nó có thể được diễn đạt như sau: “Và Áp-ra-ham được 100 tuổi [vào thời điểm ông sinh ra Y-sác, qua đó dòng dõi của ông tiếp tục đến Đa-vít], và ông sinh ra Đa-vít. Và Đa-vít được 40 tuổi [một mốc thời gian xấp xỉ khi Sa-lô-môn ra đời, qua đó Đức Giê-su sẽ đến], và ông sinh ra Đức Giê-su Christ.” Như vậy, các con số về thời điểm những người xưa sinh con trưởng của họ đóng vai trò là thời điểm dòng dõi tương lai được ban cho họ.
Hơn nữa, trong văn bản Kinh Thánh có một số lời cảnh báo rằng nếu chúng ta cộng các con số này lại, sẽ dẫn đến những sai lệch và sai sót. Hãy lấy ví dụ về người cuối cùng trong danh sách hai mươi nhân vật quan trọng: Tha-rê. Có vẻ như ông đã sống được 70 năm rồi mới có ba đứa con sinh ba (Sáng Thế Ký 11:26). Tổng tuổi thọ của ông là 205 năm (Sáng Thế Ký 11:32). Tuy nhiên, có điều gì đó không khớp, vì Áp-ra-ham rời Ha-ran sau khi cha ông qua đời (Sáng Thế Ký 12:4; Công Vụ Các Sứ Đồ 7:4), nhưng lúc đó ông mới 75 tuổi chứ không phải 135 tuổi, con số mà ông lẽ ra phải có nếu các con số được hiểu theo cách mà cách sử dụng hiện đại chấp nhận! Do đó, nếu chúng ta cộng các con số trong phần gia phả này, chúng ta đã sai lệch 60 năm, vì văn bản hẳn đã có ý nói rằng Tha-rê “bắt đầu có con khi ông 70 tuổi”, nhưng Abram thực sự được sinh ra khi cha ông 130 tuổi chứ không phải khi ông 70. Ông không phải là con trai trưởng, nhưng tên ông được nêu đầu tiên vì ông là nhân vật quan trọng nhất.
Không ai nghiên cứu hiện tượng này kỹ lưỡng hơn cố học giả William Henry Green trong bài viết của ông đăng trên tạp chí Bibliotheca Sacra vào tháng 4 năm 1890, mang tiêu đề “Primeval Chronology” (Niên đại nguyên thủy). Chẳng hạn, Green chỉ ra rằng dòng dõi các thầy tế lễ thượng phẩm của A-rôn xuất hiện trong 1 Sử ký 6:3–14 và Ê-xơ-ra 7:1–15, nhưng trong Sử ký có tới hai mươi hai thế hệ và tên, trong khi Ê-xơ-ra chỉ có mười sáu tên. Khi so sánh hai danh sách này, rõ ràng là Ê-xơ-ra đã cố ý bỏ qua từ tên thứ tám đến tên thứ mười lăm, từ đó rút gọn danh sách của mình, nhưng theo cách hợp lệ trong truyền thống Kinh Thánh. Điều này chính xác là những gì được minh họa trong các danh sách trong sách Ma-thi-ơ. Thực tế, Ê-xơ-ra 8:1–2 còn rút gọn danh sách này hơn nữa, dường như ngụ ý rằng một chắt và một cháu nội của A-rôn, cùng với một con trai của Đa-vít, đã cùng Ê-xơ-ra trở về từ Ba-by-lôn sau thời kỳ lưu đày! Đó mới thực sự là sự rút gọn! Tất nhiên, Ê-xơ-ra chỉ đề cập đến những nhân vật quan trọng nhất để phục vụ cho danh sách ngắn gọn này.
Trong phần phân tích một số gia phả và dòng dõi trong tập hợp các tác phẩm này, chúng ta sẽ tìm thấy thêm nhiều ví dụ khác. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng đây là một hiện tượng quan trọng, và nếu các nhà giải thích bỏ qua nó, họ sẽ làm tổn hại đến chính sự hiểu biết của mình về văn bản.