Nhân kỷ niệm lần thứ hai mươi tạp chí Biblical Archaeology Review (Khảo Cổ Học Kinh Thánh), ban biên tập đã mời Michael D. Coogan liệt kê “10 Khám Phá Vĩ Đại” hoặc những phát hiện tiêu biểu qua nhiều năm thám sát khảo cổ hiện đại tại vùng Cận Đông cổ đại. Các lựa chọn của ông bao gồm:

  1. Phiến đá sét thứ XI của Sử thi Gilgamesh khai quật tại Ni-ni-ve, mang những điểm tương đồng với ký thuật về trận đại hồng thủy trong Kinh Thánh

  2. Bức bích họa Beni Hasan tại Ai Cập thế kỷ XIX TC, khắc họa hình ảnh 37 người châu Á đến buôn bán và phác họa diện mạo khả dĩ của các tổ phụ

  3. Cao nguyên tại Ghê-xe (Gezer) gần Tel Aviv có niên đại 1600 TC

  4. Cán dao bằng ngà voi được chạm khắc từ Megiddo thuộc thế kỷ XIII hoặc XII TC

  5. Mặt dây chuyền hình nữ thần sinh sản từ Ras Shamra, Syria, có niên đại thế kỷ XIV hoặc XII TC

  6. Hồ Ga-ba-ôn (Gibeon), cách Giê-ru-sa-lem (Jerusalem) sáu dặm về phía bắc, thuộc thế kỷ XI TC, nơi rất có thể quân của Đa-vít dưới quyền chỉ huy của Giô-áp đã giao chiến với quân của Ích-bô-sết (Ishbosheth), con trai Sau-lơ (Saul), do Áp-ne (Abner) chỉ huy (2 Sa-mu-ên 2:12–17)

  7. Bàn thờ Bê-e-Sê-ba (Beersheba) ở miền nam Y-sơ-ra-ên thuộc thế kỷ VIII TC

  8. Cuộn bùa bằng bạc thuộc thế kỷ VII TC khai quật tại Ketef Hinnom, gần Giê-ru-sa-lem, mang danh Đức Giê-hô-va

  9. Pháo đài Masada trên bờ tây nam Biển Chết thuộc thế kỷ II TC

  10. Bản đồ khảm thạch thuộc thế kỷ VI TC từ Madaba, Jordan

Mỗi khám phá này quả thực đều là những phát hiện gây chấn động, minh họa cho một khía cạnh nào đó của văn bản Kinh Thánh.

Kết quả từ những khám phá khảo cổ quả thực vô cùng phi thường. Trong số những phát hiện gây sửng sốt nhất được khai quật trong những năm gần đây, phải kể đến:

  1. Khám phá năm 1993 của Avraham Biran về một bản khắc tiếng A-ram tại Tel Đan, có niên đại giữa thế kỷ thứ IX, trong đó có nhắc đến “Nhà Đa-vít”

  2. Tấm bia ký tại Aphrodisias, miền tây nam Thổ Nhĩ Kỳ, được công bố vào năm 1987, lần đầu tiên cung cấp bằng chứng ngoại văn gián tiếp cho những ghi chép của Lu-ca về “những người kính sợ Đức Chúa Trời”

  3. Bằng chứng ngoại văn đầu tiên về Bôn-xơ Pi-lát (Pntius Pilate), được phát hiện tại Sê-sa-rê (Caesarea) vào năm 1961

  4. Một bản văn trên thạch cao tại Deir Alla, Jordan, có niên đại giữa thế kỷ thứ VIII, ghi lại khải tượng của Ba-la-am (Balaam), con trai Bê-ô-rơ (Beor), rất có thể chính là Ba-la-am được chép trong sách Dân Số Ký từ chương 22 đến 24

  5. Khám phá năm 1990 về mười hai hộp đựng hài cốt, trong đó có hai hộp mang tên “Giô-sép, con trai Cai-phe,” rất có thể chính là vị Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đã chủ tọa phiên tòa xét xử Chúa Giê-xu

  6. Việc xác định vào năm 1995 vị trí của Bết-sai-đa (Bethsaida) trên bờ đông bắc biển Ga-li-lê (Galilee), quê hương của một số môn đệ Chúa Giê-xu

Danh sách những khám phá như thế này còn có thể nối dài mãi mãi.

Tuy nhiên, không phải mọi khám phá khảo cổ đều mang lại bước tiến trong sự hiểu biết của chúng ta về thế giới Kinh Thánh và chính những trang Kinh Thánh. Một số khác lại đặt ra những thách thức diễn giải vô cùng nan giải, dẫn đến những lập trường đối lập tranh cãi gay gắt. Nan đề nổi cộm nhất trong số đó là việc các dữ liệu từ Ai Cập lẫn Y-sơ-ra-ên đều chưa thể giải quyết dứt điểm vấn đề niên đại, lộ trình và bản chất của cuộc Xuất Ê-díp-tô. Đây quả là một điều đáng thất vọng, bởi lẽ nó bao trùm hầu hết mọi sự kiện, từ hành trình rời Ê-díp-tô và những năm tháng hành trình trong hoang mạc, cho đến cuộc chinh phục và định cư tại Ca-na-an. Ngày nay, giới học giả lại càng rơi vào thế rối ren hơn bao giờ hết khi tranh luận về những vấn đề này.

Chẳng hạn, có vài vấn đề đã ngăn cản các học giả chấp nhận bằng chứng truyền thống từ Kinh Thánh về cuộc Xuất Ê-díp-tô diễn ra vào năm 1450 TC và việc tiến vào Đất Hứa vào năm 1410 TC. Kể từ giữa thế kỷ XX, đã có xu hướng nghiêng về cái được gọi là “Niên Đại Được Chấp Nhận Chung” (Generally Accepted Date - GAD), tức khoảng năm 1230–1220 TC, cho thời điểm tiến vào đất Ca-na-an. Thế nhưng ngay cả niên đại này hiện nay cũng đang dần sụp đổ, bởi vì sáu địa điểm mà Kinh Thánh ghi chép là đã bị người Y-sơ-ra-ên chinh phục (cụ thể là Giê-ri-cô (Jericho), A-hi (Ai), Ga-ba-ôn (Gibeon), Hếp-rôn (Hebron), Họt-ma/Xê-phát (Hormah/Zephath) và A-rát (Arad)) đều không tìm thấy bất kỳ dấu vết cư trú nào có niên đại từ thế kỷ thứ XIII. Tình trạng tương tự cũng có thể được lặp lại đối với các thành phố Đê-bia (Debir) và La-ki (Lachish).

Sự “khập khiễng” rõ rệt giữa các bằng chứng khảo cổ và ký thuật của Kinh Thánh về cuộc chinh phục đã buộc các học giả — những người vốn đã lùi niên đại tiến vào Đất Hứa xuống gần 200 năm so với mốc 1410 TC mà dữ liệu Kinh Thánh ngụ ý, xuống còn khoảng 1230 hay 1220 TC — phải tìm kiếm những hướng giải quyết khác. Giờ đây, một số học thuyết mới đã nhận được sự ủng hộ đáng kể. Trong số đó phải kể đến học thuyết “thâm nhập hòa bình” (một quan điểm vốn được giới học giả Đức ưu chuộng từ lâu) hay học thuyết “nông dân khởi nghĩa” gần đây hơn của George Mendenhall và Norman K. Gottwald. Cả hai học thuyết này đều loại bỏ hoàn toàn tính tất yếu của một cuộc chinh phạt bằng quân sự, mà thay vào đó là một cuộc nổi dậy của nông dân bản địa chống lại các trung tâm đô thị, hoặc một cuộc tiếp quản trong hòa bình.

Thế nhưng, 1 Các Vua 6:1 lại khẳng định cuộc Xuất Ê-díp-tô diễn ra 480 năm trước khi Sa-lô-môn khởi công xây Đền Thờ vào năm 967 TC, điều này một lần nữa đưa sự kiện này về năm 1447 TC. Các Quan Xét 11:26 cũng ghi nhận rằng dân Y-sơ-ra-ên đã định cư được 300 năm trước thời Giép-thê (Jephthah), người sống vào khoảng năm 1100 TC, qua đó tiếp tục khẳng định mốc thời gian khoảng 1400 TC cho cuộc tiến vào Đất Hứa.

Gần đây, John J. Bimson và David Livingston đã có những bước tiến vượt bậc trong việc giải quyết các nan đề khảo cổ và hài hòa hóa các kết quả này với Lời Kinh Thánh. Họ đạt được điều này chủ yếu bằng cách lùi niên đại kết thúc thời kỳ Đồ Đồng Giữa (Middle Broze) xuống khoảng 100 năm, tức là từ năm 1550 TC xuống còn khoảng 1420 TC. Khi điều chỉnh như vậy, sẽ có một sự tương hợp gần như hoàn hảo giữa các bằng chứng khảo cổ và ký thuật của Kinh Thánh về cuộc chinh phục Ca-na-an. Thật đáng chờ xem giới học thuật sẽ tiến triển ra sao về vấn đề này trong tương lai.

Bên cạnh đó, vẫn còn những ví dụ khác cho thấy sự bất tương thích hiện tại giữa khảo cổ học và Kinh Thánh. Một trường hợp điển hình là Sáng Thế Ký 14. Nếu có một chương nào trong Kinh Thánh hứa hẹn kết nối các tổ phụ với thế giới bên ngoài đương thời, thì đó chính là Sáng Thế Ký 14. Đáng tiếc thay, cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể xác định chắc chắn danh tính của bất kỳ vị vua nào trong số bốn vua từ vùng Lưỡng Hà. Một số học giả cho rằng “A-ri-óc (Arioch), vua Ê-la-sa (Ellasar)” (Sáng Thế Ký 14:1) có thể là Arriyuk được nhắc đến trong các phiến đất sét Mari thế kỷ XVIII TC, nhưng giả thuyết này cũng chưa hề chắc chắn. Nhiều năm về trước, có người từng nghĩ Hammurabi (được cho là Am-ra-phên (Amraphel) trong Sáng Thế Ký 14:1) là một trong bốn vị vua này, nhưng điều đó đã được chứng minh là sai lầm, cả về mặt cơ sở ngữ văn lẫn lý do niên đại, vì Hammurabi sống vào thời kỳ muộn hơn rất nhiều (khoảng 1792–1750 TC) so với bối cảnh lịch sử được ký thuật trong Sáng Thế Ký 14.

Trong Sáng Thế Ký 14:13, chúng ta bắt gặp sự xuất hiện lần đầu tiên của một tên gọi dân tộc trong Kinh Thánh: “Áp-ram, người Hê-bơ-rơ.” Trên các phiến đất sét Mari và trong những bức thư tín Tell el-Amarna có niên đại từ thế kỷ XIV đến XIII TC, người ta thường xuyên nhắc đến một nhóm dân tộc bí ẩn, đôi khi cũng phục vụ với tư cách là lính đánh thuê, được gọi là người Hapiru, Habiru, Hapiri hoặc Apirim — tất cả đều là những biến thể của một nhóm người có liên hệ ít nhiều với người Hê-bơ-rơ. Về mặt từ nguyên, danh xưng Hê-bơ-rơ bắt nguồn từ tên của Hê-be (Eber), một trong những hậu duệ của Sem. Dẫu vậy, giới học giả vẫn cho rằng người Hê-bơ-rơ có thể là một trong những nhóm cấu thành nên tộc người Hapiru.

Cụm từ “những người đã tập luyện” trong Sáng Thế Ký 14:14 là một thuật ngữ chuyên ngành, vốn là từ mượn từ các văn bản Ai Cập có niên đại khoảng năm 2000 TC, dùng để chỉ “đội tùy tùng” của các thủ lãnh vùng Ca-na-an.

Cuối cùng, danh xưng Đức Chúa Trời được tìm thấy trong Sáng Thế Ký 14:19, “Đức Chúa Trời Chí Cao” (˒ē-˓elyôn), “Đấng Tạo Hóa trời đất,” xuất hiện trong một tấm bia ký Phoenicia được phát hiện tại Karatepe, có niên đại khoảng thế kỷ thứ VIII TC. Như vậy, mặc dù chúng ta chưa tìm thấy các nhân vật chính trong bất kỳ tư liệu minh văn ngoại văn nào từ khảo cổ học, nhưng đã có vô số chi tiết khác trong chương này thôi thúc chúng ta tiếp tục tìm kiếm những bằng chứng xác thực rằng chương này là một bản ký thuật chân thực về những sự kiện có thật.

Các học giả thường có xu hướng trở nên vô cùng hoài nghi, như chúng ta đã thấy trong các cuộc tranh luận về cuộc Xuất Ê-díp-tô và cuộc chinh phục, đối với hầu hết mọi sự kiện diễn ra trước thời Ôm-ri và A-háp vào giữa thế kỷ IX TC, thời điểm mà họ cho rằng lịch sử Y-sơ-ra-ên, theo nghĩa kỹ thuật, mới thực sự bắt đầu. Do đó, ngay cả những nhân vật như Đa-vít và Sa-lô-môn cũng bị một số người xem là những sáng tạo thuộc thời kỳ Ba Tư được ngoại suy ngược về thế kỷ XI và X nhằm tôn vinh Y-sơ-ra-ên. Nhưng khám phá gần đây về tấm bia ký tại Tel Dan có ghi dòng chữ “Nhà Đa-vít” có lẽ đã phần nào xoa dịu sự hoài nghi này và mở ra triển vọng cho nhiều bằng chứng hơn nữa trong tương lai.

Một loại bằng chứng khảo cổ khác từ vùng Cận Đông là Lời Giáo huấn của Amen-em-opet (The Instruction of Amen-em-opet), mà nhiều người tin rằng mang nét tương đồng sâu sắc với Châm Ngôn 22:17–24:22. Giấy cói (Papyrus) 10474 tại Bảo tàng Anh, hay Lời Giáo huấn của Amen-em-opet, bao gồm ba mươi chương khá ngắn gọn và có niên đại chưa được xác định rõ ràng, mặc dù thường được xếp vào khoảng từ thế kỷ X đến thế kỷ VI TCN.

Điều đáng kinh ngạc nhất trong mối liên hệ với Kinh Thánh này là Châm Ngôn 22:20–21 chép rằng: “Chẳng phải ta đã chép cho con Ba mươi lời khuyên răn và tri thức đó sao?… Để con lấy lời chân thật mà đáp lại người sai con.?” (BTTHD) Sự tương đồng với hai câu này được tìm thấy trong tài liệu Ai Cập ở mục XXVI.15: “Hãy xem ba mươi chương này: Chúng mang lại niềm vui; chúng giáo huấn… để biết cách đáp lời cho người đã nói ra chúng.” Sự giống nhau thật đáng kinh ngạc. Còn có một số điểm tương đồng gần gũi, nhưng không hoàn toàn giống hệt, với phân đoạn ngắn này trong sách Châm Ngôn.

Các học giả Kinh Thánh có những quan điểm khác biệt về việc liệu sách Châm Ngôn có phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp về mặt văn chương vào sự khôn ngoan Ai Cập hay không. Vì niên đại của các châm ngôn Ai Cập được xác định thấp hơn so với niên đại truyền thống được gán cho thời Sa-lô-môn (971–931 TC), nên cũng có một câu hỏi mạnh mẽ không kém đặt ra về việc liệu Lời Giáo huấn của Amen-em-opet có phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào sách Châm Ngôn hay không. Ngay cả khi có thể chứng minh được một dạng phụ thuộc nào đó, sách Châm Ngôn vẫn hoàn toàn không hề chứa đựng bất kỳ ám chỉ hay sắc thái nào đặc trưng cho môi trường văn hóa, chính trị và tôn giáo của Ai Cập. Điều này chỉ là một minh chứng cho ân điển phổ quát trong trật tự sáng tạo, nơi mọi người đều được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời và do đó phản chiếu lẽ thật của Ngài cách rời rạc khắp nơi trên thế giới.

Khảo cổ học sẽ tiếp tục mang lại nhiều khoảnh khắc thú vị, bởi vì người ta ước tính rằng chưa đến một phần trăm các tư liệu hiện có trên các gò đất khảo cổ tại Y-sơ-ra-ên được khai quật, chưa kể đến những di chỉ ở phần còn lại của vùng Cận Đông cổ đại. Hơn nữa, vẫn còn một số lượng lớn các phiến đất sét và bản thảo nằm trong hầm của nhiều trường đại học đã tiến hành các cuộc khai quật qua nhiều năm, đang chờ được giải mã và công bố. Theo nghĩa đó, tương lai của ngành học này khó có thể sáng sủa hơn.