Nếu niên đại học (chronology), như người ta thường nói, là xương sống của lịch sử, thì dường như chúng ta cần phải có một nỗ lực đáng kể để đối chiếu vô số các ghi chép niên đại về các vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa được chép trong Kinh Thánh. Một sự thật đáng kinh ngạc là sách Các Vua chứa đựng vô số dữ liệu niên đại liên quan đến các vua Hê-bơ-rơ: thời điểm các triều đại bắt đầu, thời điểm một vị vua đăng quang giữa hai vương quốc là Y-sơ-ra-ên hay Giu-đa, tổng số năm trị vì của mỗi vua, và thi thoảng là những đối chiếu giữa các sự kiện trong lịch sử Thánh Kinh với các biến cố của những quốc gia khác tại vùng Cận Đông cổ đại.

Thế nhưng, sự rối rắm của các niên đại và các hệ thống tính toán lại phức tạp đến mức lời nhận xét được quy cho Jerome vào thế kỷ thứ tư dường như hoàn toàn xác đáng:

“Hãy đọc hết các sách Cựu Ước, rồi quý vị sẽ thấy vô số những điểm bất nhất về số năm trị vì của các vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên, đến nỗi việc cố gắng tháo gỡ vấn đề này dường như chỉ là công việc của một kẻ nhàn rỗi chứ chẳng phải của một học giả thực thụ.”

Các học giả hiện đại lại càng kịch liệt hơn khi lên án những dữ liệu cồng kềnh và rối rắm này. Tuy nhiên, một học giả đã dành phần lớn cuộc đời mình để tháo gỡ “nút thắt Gordian” này chính là Edwin R. Thiele. Cuối cùng, ông đã có thể hệ thống hóa toàn bộ các dữ liệu này một cách hợp lý và chứng minh tính chính xác của chúng trong luận án tiến sĩ của mình tại Đại học Chicago. Mặc dù thực tế là hệ thống của Thiele, hay của bất kỳ ai khác, đều chưa đạt được sự chấp nhận mang tính phổ quát, nhưng những bằng chứng mà Thiele đã thu thập chưa bao giờ bị bác bỏ hoàn toàn. Lời phàn nàn chủ yếu chỉ là ông đã tiếp nhận các dữ liệu Thánh Kinh một cách quá nghiêm túc và đã hài hòa hóa (harmonized) chúng một cách trọn vẹn. Tuy nhiên, thuật ngữ “hài hòa hóa” lại không được xem là một khái niệm tích cực, mà mang hàm ý tiêu cực. Dẫu vậy, tôi cho rằng lập luận của ông đã đứng vững suốt hơn bốn mươi năm qua và tôi sẽ trình bày theo hướng này, mặc dù có vô số nỗ lực khác nhằm đưa ra những giải pháp thay thế, nhưng lại không tiếp nhận toàn bộ dữ liệu Thánh Kinh một cách nghiêm túc như Thiele.

NIÊN ĐẠI THEO THIELE#

Thiele khởi đầu bằng việc xác lập một số niên đại nền tảng. Yếu tố quan trọng nhất giúp hoàn thành bước đệm này chính là khám phá khảo cổ về bảng niên biểu quan chấp chính A-si-ri (Assyria), bao trùm từng năm theo thứ tự từ 892 đến 648 TC. Những bảng niên biểu này ghi tên một “người của năm” để đặt cho niên hiệu, nhưng đồng thời cũng thường ghi chép lại các sự kiện trọng yếu đã diễn ra.

Chẳng hạn, vào năm quan chấp chính là Bur-Sagale, tổng trấn Guzana, bảng niên biểu ghi nhận có “một cuộc nổi loạn tại thành A-sua”. Vào tháng Si-manu, một hiện tượng nhật thực đã xảy ra. Nhờ các tính toán thiên văn, ngày nay chúng ta có thể xác định sự kiện này trên lịch Julius rơi vào ngày 15 tháng 6 năm 763 TC. Vì chúng ta có thể xác lập niên đại tuyệt đối cho từng năm ở cả hai phía của trận nhật thực ngày 15 tháng 6 năm 763 TC này trong bảng niên biểu, nên một dữ kiện vô cùng quan trọng là: vào năm quan chấp chính của Daian-Assur (853 TC), tức năm thứ sáu dưới triều Sanh-ma-na-sa (Shalmaneser) II, trận Qarqar đã nổ ra, trong đó A-háp (Ahap), vua Y-sơ-ra-ên, đã đứng lên chống lại ông. Mười hai năm sau, vào năm quan chấp chính của Adad-rimani (841 TC), Sanh-ma-na-sa đã nhận triều cống từ một vị vua tên là “I-a-u”, một nhà cai trị Y-sơ-ra-ên. Đây không ai khác chính là Vua Giê-hu (Jehu).

Thật trùng hợp thay, khoảng thời gian giữa lúc Vua A-háp băng hà và khi Vua Giê-hu đăng quang vỏn vẹn đúng mười hai năm (tính theo niên hiệu chính thức là hai năm cho Vua A-cha-xi (Ahaziah), nhưng thực tế chỉ trị vì một năm, xem 1 Các Vua 22:51), và mười hai năm chính thức nhưng chỉ mười một năm thực trị cho Vua Giô-ram (Joram), theo 2 Các Vua 3:1). Như vậy, năm 853 TC chính là năm A-háp băng hà, và năm 841 TC là năm Giê-hu đăng quang. Điều này tạo cho chúng ta một điểm tựa vững chắc để kết nối lịch sử của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa với niên đại ngày nay và các biến cố của thế giới đương thời.

Một mối liên kết tương tự như vậy được tìm thấy trong niên đại học của người A-si-ri, khi xác định chiến dịch thứ ba của San-chê-ríp (Sennacherib) diễn ra vào năm 701 TC, trong cuộc viễn chinh chống lại Ê-xê-chia (Hezekiah). Các tư liệu A-si-ri ghi chép khoảng thời gian 152 năm tính từ năm thứ sáu dưới triều Sanh-ma-na-sa III, khi ông giao chiến với A-háp tại Qarqar vào năm 853 TC. Tuy nhiên, dựa trên lịch sử được tái lập của người Hê-bơ-rơ, khoảng thời gian từ khi A-háp băng hà cho đến năm thứ mười bốn dưới triều Ê-xê-chia, tức năm 701 TC, cũng tròn 152 năm. Như vậy, chúng ta có thêm một mối liên kết trọng yếu thứ hai với lịch sử thế giới và niên đại học.

Khi đào sâu nghiên cứu hai mối liên kết chính yếu này với lịch sử thế giới, Thiele đã phát hiện ra ba phương pháp tính niên đại quan trọng được áp dụng tại Y-sơ-ra-ên và Giu-đa thời cổ đại.

1. Nguyên tắc thứ nhất liên quan đến sự khác biệt trong cách tính lịch năm của Giu-đa và Y-sơ-ra-ên

Y-sơ-ra-ên khởi đầu một năm từ tháng Ni-san (Nisan) vào mùa xuân, trong khi Giu-đa lại tính năm mới bắt đầu từ tháng Tít-ri(Tishri) vào mùa thu. Điều này có nghĩa là, nếu đối chiếu với năm dương lịch bắt đầu từ tháng Giêng, thì một năm tính theo lịch Ni-san sẽ khởi sự vào mùa xuân và kéo dài sang tận mùa xuân năm sau, do đó bao trùm một phần của hai năm dương lịch. Tương tự như vậy, một năm tính theo lịch Tít-ri cũng sẽ trải dài qua hai mùa thu. Nhưng vấn đề còn phức tạp hơn ở chỗ: một năm trị vì tại Y-sơ-ra-ên lại có sự giao thoa và chồng lấn lên tới hai năm trị vì tại vương quốc Giu-đa.

2.Đặc điểm thứ hai liên quan đến việc áp dụng hai phương pháp tính niên đại

Hệ thống có năm đăng quang và hệ thống không năm đăng quang. Kể từ khi vương quốc phân chia sau thời Sa-lô-môn (Solomon), vương quốc phương Bắc và phương Nam hầu như luôn áp dụng phương pháp tính năm trị vì ngược lại với quốc gia láng giềng của mình. Cụ thể, theo nguyên tắc “không năm đăng quang”, năm đầu tiên trị vì sẽ được tính ngay là năm thứ nhất. Trong khi đó, theo nguyên tắc “có năm đăng quang”, năm trị vì thứ nhất chỉ được bắt đầu tính sau khi tháng khởi đầu năm lịch (Ni-san hoặc Tít-ri) trôi qua và trọn vẹn một năm sau đó.

Vương quốc Giu-đa đã áp dụng hệ thống có năm đăng quang từ thời Rô-bô-am (Rehoboam) cho đến Giô-sa-phát (Jehoshaphat), trong khi Y-sơ-ra-ên lại dùng hệ thống không năm đăng quang từ Giê-rô-bô-am (Jeroboam) cho đến A-háp. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa hai vương quốc đã dần hòa dịu vào thời A-háp và Giô-sa-phát, và được củng cố vững chắc qua cuộc hôn nhân giữa A-tha-li (Athaliah), con gái của A-háp và Giê-sa-bên (Jezebel), với thái tử Giô-ram (Jehoram), con trai của Giô-sa-phát. Đúng như lời Kinh Thánh trong 2 Các Vua 8:18 đã nhận xét về Giô-ram: “Người đi theo đường lối các vua Y-sơ-ra-ên, như nhà A-háp đã làm, vì người cưới con gái A-háp làm vợ.” Giô-ram và A-tha-li đã du nhập hệ thống không năm đăng quang vào Giu-đa, và hệ thống này được duy trì cho đến khi xảy ra sự cự tuyệt đầy xúc phạm của Vua Giô-ách (Jehoash) xứ Y-sơ-ra-ên đối với Vua A-ma-xia (Amaziah) xứ Giu-đa liên quan đến lời đề nghị gả công chúa cho con trai của A-ma-xia (2 Các Vua 14:8–10). Thế nhưng, trước khi mối quan hệ ngoại giao này đổ vỡ, cả hai vương quốc đều đã quay trở lại áp dụng hệ thống có năm đăng quang, và vì lý do nào đó, họ tiếp tục duy trì phương pháp này cho đến tận khi lịch sử của mỗi vương quốc khép lại.

3. Nguyên tắc thứ ba được Thiele đưa ra là mỗi vương quốc đều áp dụng hệ thống tính toán của chính mình khi ghi chép số năm trị vì của một vị vua thuộc vương quốc đối phương.

Chẳng hạn, triều đại của Rô-bô-am xứ Giu-đa kéo dài mười bảy năm theo hệ thống có năm đăng quang của Giu-đa, nhưng nếu tính theo nguyên tắc không năm đăng quang của Y-sơ-ra-ên thì con số này là mười tám năm.

Ba nguyên tắc nền tảng về phương pháp tính niên đại tại hai vương quốc Y-sơ-ra-ên và Giu-đa này chính là chìa khóa then chốt để thấu hiểu ý nghĩa của những con số ghi chép về thời gian trị vì của các vua.

Niên đại mà Thiele xác lập cho sự kiện phân chia vương quốc sau khi Sa-lô-môn băng hà là năm 931/930 TC. Tuy nhiên, niên đại này nhìn chung đã bị giới học thuật bác bỏ. Trước đây (cho đến chừng một hai thập kỷ gần đây), giới học thuật thường có xu hướng chấp nhận niên đại 922 TC của William Foxwell Albright, thế nhưng con số này đòi hỏi phải gần như bác bỏ hoàn toàn một số dữ liệu Thánh Kinh. Albright lập luận rằng, dựa trên các dữ liệu trong 2 Sử Ký 15:19 và 2 Sử Ký 16:1, cần thiết phải “rút ngắn thời gian trị vì của Rô-bô-am xuống ít nhất tám năm, và có lẽ đến chín năm” so với những gì văn bản Thánh Kinh ghi chép. Tuy nhiên, việc cắt giảm này hoàn toàn không cần thiết nếu chúng ta thấu hiểu chính xác các chi tiết, đúng như cách Thiele đã tháo gỡ và sắp xếp. Gần đây hơn, John Hayes và Paul Hooker đã đề xuất niên đại 927/926 TC làm năm trị vì đầu tiên của Rô-bô-am tại Giu-đa và Giê-rô-bô-am I tại mười chi phái phương Bắc của Y-sơ-ra-ên. Niên đại này được đưa ra trên cơ sở phủ nhận cả ba nguyên tắc của Thiele, đồng thời điều chỉnh lại các niên đại Thánh Kinh bất cứ khi nào chúng bị cho là thiếu chính xác vì lý do này hay lý do khác.

Tuy nhiên, niên đại 931/930 TC của Thiele hoàn toàn có thể được chứng minh là xác thực. Chúng ta chỉ cần tham khảo sơ đồ dưới đây để minh chứng cho khẳng định này.

  • Vương quốc Giu-đa

    Năm trị vì
    Rô-bô-am (Rehoboam) 17
    A-bi-giam (Abijam) 3
    A-sa (Asa) 41
    Giô-sa-phát (Jehoshaphat) 18
    79
  • Vương quốc Y-sơ-ra-ên

    Năm trị vì Năm trị vì thực tế
    Giê-rô-bô-am (Jeroboam) 22 21
    Na-đáp (Nadab) 2 1
    Ba-ê-sa (Baasha) 24 23
    Ê-la (Elah) 2 1
    Ôm-ri (Omri) 12 11
    A-háp (Ahab) 22 21
    A-cha-xia (Ahaziah) 2 1
    86 79

Biểu đồ này của Thiele minh chứng hai điểm quan trọng:

  1. Tám mươi sáu năm của Y-sơ-ra-ên tính theo hệ thống không năm đăng quang thực chất chỉ là bảy mươi chín năm lịch thực tế, hoàn toàn khớp với hệ thống có năm đăng quang của Giu-đa

  2. Tính từ khi A-háp băng hà vào năm 853 TC, như đã được xác lập qua các quan sát thiên văn trong bảng niên biểu quan chấp chính và khoảng thời gian mười hai năm ngăn cách giữa Giê-hu và A-háp, cho đến buổi đầu của thời kỳ vương quốc phân chia là 78 năm. Do đó, 78 cộng với 853 sẽ cho ra niên đại 931/930 TC cho sự kiện phân chia vương quốc.

NHỮNG THỜI KỲ CHỒNG LẤN HAY ĐỒNG NHIẾP CHÍNH#

Trong thời kỳ các vương quốc Hê-bơ-rơ, đã có chín giai đoạn trị vì chồng lấn hay đồng nhiếp chính. Sự thật này tạo nên nguyên tắc quan trọng thứ tư cần phải được nhìn nhận và tính đến khi sử dụng các con số về năm trị vì và các thời kỳ đồng nhiếp chính của các vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Giai đoạn trị vì chồng lấn đầu tiên là của Típ-ni (Tibni) và Ôm-ri (Omri) tại Y-sơ-ra-ên. 1 Các Vua 16:21 chép rằng: “Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên chia làm hai phe: Phe nầy theo Típ-ni, con trai Ghi-nát, và muốn lập người làm vua; phe kia theo Ôm-ri.” Theo đó, vào thời điểm này đã có ba vương quốc: hai vương quốc ở phương Bắc dưới quyền Típ-ni và Ôm-ri, và một vương quốc ở phương Nam, là Giu-đa.

Hiện tượng ba vương quốc tương tự như vậy cũng xảy ra sau này, khi Mê-na-hem (Menahem) cai trị một vương quốc ở phương Bắc và Phê-ca (Pekah) cai trị vương quốc còn lại, có lẽ là từ xứ Ga-la-át (Gilead). Ô-sê 5:5 đã xác nhận sự thật này khi cảnh báo: “Sự kiêu ngạo của Y-sơ-ra-ên làm chứng tận mặt nó, nên Y-sơ-ra-ên và Ép-ra-im sẽ ngã xuống vì cớ tội lỗi mình; Giu-đa cũng sẽ ngã xuống với chúng nó.” Hãy chú ý đến ba dạng số nhiều trong tiếng Hê-bơ-rơ, bởi vì một lần nữa lại có hai vương quốc ở phương Bắc.

Giai đoạn chồng lấn thứ ba là thời kỳ đồng nhiếp chính kéo dài mười hai năm giữa Giô-ách và Giê-rô-bô-am II tại Y-sơ-ra-ên, như được ghi chép trong 2 Các Vua 13:10 và 2 Các Vua 14:23. Như vậy, mười sáu năm trị vì của Giô-ách và bốn mươi mốt năm của Giê-rô-bô-am II nếu cộng lại sẽ là năm mươi bảy năm, nhưng khi tính đến thời kỳ đồng nhiếp chính, con số thực tế chỉ là bốn mươi lăm năm.

Trong một trường hợp đồng nhiếp chính khác, hai mươi bốn năm trong tổng số năm mươi hai năm trị vì của A-xa-ria (Azariah) đã chồng lấn lên hai mươi chín năm trị vì của A-ma-xia (Amaziah). Một lần nữa, điều này đã giảm tổng số năm từ tám mươi mốt năm xuống còn năm mươi bảy năm thực tế.

Giai đoạn chồng lấn thứ năm xảy ra trong thời kỳ đồng nhiếp chính của Giô-tham (Jotham) và A-xa-ria (Azariah), như được đề cập trong 2 Các Vua 15:5. Vì A-xa-ria mắc bệnh phong hủi, nên con trai ông đã thay mặt ông nhiếp chính để cai trị đất nước. Tương tự, sự chồng lấn thứ sáu diễn ra giữa A-cha (Ahaz) và Giô-tham (Jotham) tại Giu-đa, bởi cuộc tấn công của Phê-ca và Rê-xin (Rezin) không chỉ nhắm vào A-cha (2 Các Vua 16:5–9), mà còn nhắm vào cả Giô-tham nữa (2 Các Vua 15:37).

Vua Giô-ram đã đồng nhiếp chính với thân phụ là Giô-sa-phát, như được ngụ ý trong 2 Các Vua 8:16: “Năm thứ năm về đời Giô-ram, con trai A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, thì Giô-ram, con trai Giô-sa-phát, vua Giu-đa, lên ngôi làm vua Giu-đa đương khi Giô-sa-phát còn trị vì.” Sự xác nhận thêm nữa đến từ dữ kiện đồng bộ niên đại trong 2 Các Vua 3:1, ghi nhận Giô-ram bắt đầu trị vì vào “năm thứ mười tám dưới triều Giô-sa-phát, vua Giu-đa”, nhưng theo 2 Các Vua 1:17, ông lại bắt đầu vào “năm thứ hai dưới triều Giô-ram, con trai Giô-sa-phát.” Như vậy, năm thứ mười tám của Giô-sa-phát chính là năm thứ hai trong thời kỳ đồng nhiếp chính của Giô-ram. Điều này có nghĩa là Giô-ram đã trở thành người đồng nhiếp chính với thân phụ vào năm thứ mười bảy dưới triều đại của cha mình, chính là năm mà Giu-đa liên minh với Y-sơ-ra-ên để chống lại Sy-ri (Syria). Sự thận trọng đã thúc đẩy Giô-sa-phát phải lập Giô-ram lên ngôi trước khi ông dấn thân vào liên minh quân sự này – một chiến dịch mà tại đó A-háp của Y-sơ-ra-ên đã bỏ mạng (1 Các Vua 22:29–37), còn chính Giô-sa-phát thì suýt chút nữa đã mất mạng.

Thời kỳ đồng nhiếp chính thứ tám là giữa Giô-sa-phát và thân phụ lớn tuổi của ông, vua A-sa. Vào năm thứ ba mươi chín dưới triều đại của A-sa, ông mắc bệnh nặng ở chân. Điều này đã khiến ông, vào giai đoạn cuối của triều đại kéo dài bốn mươi mốt năm, phải lập Giô-sa-phát làm người đồng nhiếp chính để cùng ông cai trị dân sự (2 Sử Ký 16:12).

Thời kỳ đồng nhiếp chính cuối cùng là giữa Ma-na-se (Manasseh) và Ê-xê-chia. Một lần nữa, bệnh tật chính là nguyên nhân dẫn đến sự sắp đặt này (2 Các Vua 20:1, 6). Khi biết rằng mình, tức Ê-xê-chia, chỉ còn mười lăm năm để sống, lẽ đương nhiên là ông sẽ lập con trai là Ma-na-se lên ngôi đủ sớm để huấn luyện con về đường lối cai trị đất nước.

Đó chính là bản chất của phương pháp tính niên đại kép khi xác định các năm trị vì, thời kỳ đồng nhiếp chính và các dữ kiện đồng bộ niên đại của các vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.