Trong số những đoạn văn khó hiểu nhất của Kinh Thánh có những phần ghi chép về những con số khổng lồ, chẳng hạn như các danh sách điều tra dân số trong giai đoạn đầu của lịch sử Y-sơ-ra-ên hay những con số liên quan đến các trận chiến của dân tộc này trong những năm cuối cùng.

Việc ghi chép các con số trong các văn bản cổ đại đặc biệt dễ xảy ra sai sót do các hệ thống đếm rất đa dạng và thiếu sự thống nhất giữa các nền văn hóa hoặc các giai đoạn lịch sử trong cùng một quốc gia hay nền văn hóa.

Trong các văn bản Cựu Ước hiện có, tất cả các con số đều được viết bằng chữ cái theo cách phát âm. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là ban đầu không có hệ thống số hoặc ký hiệu mã hóa trực tiếp hơn được sử dụng cho ít nhất một số con số trong số này. Mặc dù chưa tìm thấy văn bản Kinh Thánh nào sử dụng hệ thống như vậy, nhưng các dấu hiệu của thợ xây và những ví dụ có thể là các dấu đếm đơn giản đã được ghi nhận trong các cuộc khai quật tại Y-sơ-ra-ên. Những con số duy nhất mà chúng ta tìm thấy trong các tài liệu khắc chữ do các nhà khảo cổ học khai quật được là những con số xuất hiện trên các văn bản khắc cổ nhất, bao gồm Lịch Gezer, Tảng đá Mô-áp, các mảnh gốm từ Sa-ma-ri và Khắc họa trên Đường hầm Si-lô-am của Ê-xê-chia. Trong đó, các con số hoặc có giá trị rất nhỏ, từ 1 đến 3, hoặc được viết theo cách phát âm.

Một số con số lẽ ra không bao giờ nên được đưa vào cuộc thảo luận, bởi chúng xuất phát từ những bổ sung hiện đại không có trong chính văn bản. Do đó, người ta nghĩ ngay đến con số 1.656 năm được cho là đã trôi qua từ khi sáng thế đến đại hồng thủy theo các bản thảo tiếng Do Thái, trong khi bản Bảy Mươi (Septuagint) tiếng Hy Lạp ghi là 2.242 năm và các văn bản Sa-ma-ri ghi là 1.307 năm.

Việc bản văn Sa-ma-ri đã bớt đi 100 tuổi của Giê-rệt và Mê-tu-sê-la, cùng với việc bớt đi 100 năm cộng thêm 29 năm tuổi của Lê-méc vào thời điểm sinh con đầu lòng, là điều đủ nhất quán để cho thấy có lẽ đây là một sai sót trong quá trình sao chép từ bản văn này sang bản văn khác. Trong khi đó, bản Bảy Mươi lại thêm 100 năm nữa vào tuổi của A-đam, Sết, Ê-nót, Kê-nan, Ma-ha-la-le và Hê-nóc khi con đầu lòng của họ ra đời, trong khi với Lê-méc, họ chỉ thêm 6 năm nữa.

Những vấn đề tương tự cũng xảy ra ở những chỗ khác. Ví dụ, một số bản văn cho biết số người đi cùng Phao-lô trên tàu khi ông bị đắm tàu là 276, nhưng một vài bản chép tay lại ghi là 76. Tương tự, con số 666 nổi tiếng trong Khải Huyền 13:18 lại được ghi là 616 trong một vài bản chép tay. Trong Cựu Ước, việc 50.070 nam giới ở Bết-Sê-mết chết vì đã đối xử thiếu tôn kính với hòm giao ước của Đức Chúa Trời (1 Sa-mu-ên 6:19) được diễn đạt chính xác hơn, như một số bản chép tay ghi lại, là 70, vì thị trấn này hầu như không có đến 50.000 cư dân vào thời điểm đó.

Không phải tất cả các con số lớn trong Kinh Thánh đều dễ xử lý như những con số vừa được đề cập. Số lượng chiến binh Y-sơ-ra-ên từ hai mươi tuổi trở lên dường như cho thấy rằng dân số đã rời khỏi Ai Cập và lang thang trong sa mạc suốt bốn mươi năm đã vượt quá hai triệu người. Điều này đã dẫn đến nhiều nỗ lực nhằm giảm bớt con số này và làm cơ sở để xử lý các tuyên bố tương tự trong Kinh Thánh. Một trong những cách giải thích nổi tiếng nhất là lấy từ tiếng Do Thái ˒elep̄, thường được dịch là “ngàn”, và thay vào đó dịch nó thành “gia đình”, “bộ tộc” hoặc “nhóm lều”. Nếu từ này được dịch như vậy trong Dân số ký 1 và Dân số ký 26, thì tổng số nam giới trong độ tuổi chiến đấu sẽ chỉ là 5.000 hoặc 6.000 người, thay vì 603.550 người.

Đúng là từ này có thể được sử dụng theo cách đó, vì Các Quan Xét 6:15 viết: “gia tộc (˒elep̄) của tôi là nghèo nhất trong chi phái Ma-na-se.” Nhưng vấn đề với nỗ lực giản lược này là nó chỉ tạo ra thêm nhiều vấn đề khác trong văn bản. Ví dụ, trong Xuất Ê-díp-tô Ký 38:25–26, nơi quy định mỗi chiến binh trên 20 tuổi phải nộp nửa siếc-lơ, số tiền nộp là 100 ta-lâng và 1.775 siếc-lơ. Một ta-lâng tương đương với 3.000 siêc-lơ, do đó 3.000 nhân với 100 bằng 300.000, cộng thêm 1.775 bằng 301.775. Xét rằng mỗi nam giới trên 20 tuổi được định giá là nửa siêc-lơ, 301.775 nhân 2 bằng 603.550, con số này trùng khớp với con số trong Dân Số ký 1:46, hoặc tương tự như con số ở cuối cuộc hành quân trong Dân Số ký 26:51 (601.730 người). Do đó, nếu vấn đề được giải quyết ở một khía cạnh nào đó dưới góc độ “các đơn vị gia đình”, thì nó lại trở nên trầm trọng hơn ở khía cạnh khác — trong trường hợp này là danh sách vật liệu xây dựng Đền Tạm; vì vậy, con số 603.550 chiến binh là con số chính xác và dân số quốc gia lúc bấy giờ có lẽ vào khoảng hai triệu người.

Một số mâu thuẫn nổi tiếng nhất về các con số trong Kinh Thánh xuất hiện trong thời kỳ hậu lưu đày, đặc biệt là trong sách Sử Ký. Hầu hết các nhà giải thích không thuộc phái Tin Lành đều cho rằng các con số do tác giả Sử Ký đưa ra là quá cao đến mức khó tin. Chính thực tế này, hơn bất kỳ yếu tố nào khác, đã khiến tác phẩm của tác giả Sử Ký trở nên đáng nghi ngờ trong mắt nhiều nhà giải kinh hiện đại. Có khoảng 629 con số cụ thể xuất hiện trong Sách 1 và 2 Sử Ký.

Một ví dụ điển hình là số lượng quân đội của Giô-sa-phát. Sách 2 Các Vua 17:14–18 mô tả lực lượng chiến đấu được chia thành năm nhóm với số lượng lần lượt là 300.000, 280.000, 200.000, 200.000 và 180.000 người, tổng cộng tạo thành một đạo quân gồm 1.160.000 người. Nhiều học giả cho rằng con số này là quá cao. Tuy nhiên, không có con số so sánh nào khác để đánh giá tính xác thực của con số này ngoài việc người hiện đại coi đó là “quá nhiều”.

Nghiêm trọng hơn là những đoạn văn có các con số tương ứng. Một số ví dụ đáng chú ý bao gồm:

  • 1 Sử ký 19:18 ghi “7.000 cỗ xe chiến”, trong khi 2 Sa-mu-ên 10:18 ghi “700”

  • 1 Các vua 4:26 ghi “40.000 chuồng ngựa”, nhưng 2 Sử ký 9:25 lại ghi “4.000”

  • 2 Vua 24:8 tuyên bố “Giê-hô-gia-chin mười tám tuổi”, trong khi 2 Sử ký 36:9 khẳng định “Giê-hô-gia-chin tám tuổi”.

Rõ ràng là trong mỗi ví dụ này đều có một lỗi sao chép, thể hiện một sai sót ban đầu trong một hoặc nhiều dòng bản thảo của các văn bản tiếng Do Thái.

Kết luận của J. Barton Payne là: “Trong mười một trường hợp có sự khác biệt về con số giữa bản MT (Masoretic Text) của sách Sử Ký và Sách Sa-mu-ên/Các Vua do lỗi của người sao chép, sách Sử Ký được xác định là chính xác trong năm trường hợp, không chính xác trong năm trường hợp, và một trường hợp còn lại vẫn chưa rõ ràng.”

Một ví dụ nổi bật khác về những con số không khớp nhau trong các danh sách song song có thể thấy trong sách Nê-hê-mi 7 và Ê-xơ-ra 2. Có 33 đơn vị gia đình xuất hiện trong cả hai danh sách với tổng cộng 153 con số, trong đó 29 con số không trùng khớp giữa sách Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi. Một lần nữa, có thể nói rằng nếu hệ thống ký hiệu mã hóa được sử dụng với các nét dọc để biểu thị đơn vị, nét ngang để biểu thị hàng chục, và các ký tự “mem” cách điệu (chữ cái đầu tiên trong từ tiếng Do Thái “mē˒ah” – “trăm”) để biểu thị hàng trăm, thì người chép đã chép sai một nét duy nhất. Theo giả thiết này, hầu hết các điểm khác biệt đều liên quan đến một nét duy nhất.

Cũng có khả năng thực sự là những hoàn cảnh khác nhau khi tiến hành cuộc điều tra dân số đã ảnh hưởng đến các con số. Danh sách của Ê-xơ-ra được lập ra khi dân chúng đang tụ tập tại Ba-by-lôn, trong khi danh sách của Nê-hê-mi được lập tại Giu-đê sau khi tường thành Giê-ru-sa-lem đã được xây dựng xong. Do đó, nhiều người có thể đã thay đổi ý định, trong khi những người khác có thể đã qua đời trong khoảng thời gian đó.

Cuối cùng, vấn đề cũng đúng như Allrik đã nói: “Dù thoạt nhìn, những khác biệt về văn bản và số liệu này có vẻ bất lợi, nhưng thực tế chúng lại làm tăng đáng kể giá trị của các danh sách, bởi chúng giúp bộc lộ rõ bản chất thực sự và niên đại của chúng.”