Một trong những cụm từ mở đầu phổ biến nhất trong các sách tiên tri là công thức “Đức Giê-hô-va phán” Rõ ràng, điều mà các sứ giả của Đức Chúa Trời muốn nhấn mạnh là chính Đức Giê-hô-va đang phán, chứ không phải bản thân các tiên tri. Kinh Thánh đã khẳng định rõ ràng rằng Đức Giê-hô-va phán “qua” các tiên tri (Ê-sai 20:3; Giê-rê-mi 37:2; 50:1; Ha-gai 1:1, 3; 2:1; Xa-cha-ri 7:7; Ma-la-chi 1:1).
Nội dung của một số lời tiên tri đôi khi trĩu nặng những lời phán xét đến nỗi nó được gọi là ma-xa (maśśā˒), nghĩa là “gánh nặng” (ví dụ: Giê-rê-mi 23:33; Xa-cha-ri 9:1; 12:1; Ma-la-chi 1:1). Các bản dịch hiện đại thường có xu hướng dịch từ này là “lời tiên tri”, nhưng sắc thái nặng nề, u ám và mang tính gánh nặng của từ này dường như đòi hỏi một cách dịch sát nghĩa hơn. Như vậy, các tiên tri đã mang đến những lời yên ủi, khích lệ và cả những lời phán xét.
Kinh Thánh chép rằng lời Đức Giê-hô-va “đến” cùng các tiên tri. Cách diễn đạt này nhấn mạnh rằng sứ điệp đó khởi phát từ chính nguồn cội thiêng liêng thúc đẩy, chứ không đến từ tiên tri — người chỉ là kẻ nhận lãnh. Trong bối cảnh đó, Đức Giê-hô-va được khẳng định là đang phán qua các tiên tri. Công thức thuật ngữ đặc trưng của các tiên tri xuất hiện lặp đi lặp lại chính là nê-um Giê-hô-va (ne˒um Yahweh), nghĩa là “lời phán của Đức Giê-hô-va,” hoặc đơn giản hơn, như một điệp khúc được lặp lại thường xuyên, “Đức Giê-hô-va phán.”
Những công thức này nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng và tính xác tín của sứ điệp mà nhà tiên tri vừa công bố hoặc sắp truyền đạt. Sứ mạng chính yếu của các nhà tiên tri là mang lời Đức Giê-hô-va đến cho dân Y-sơ-ra-ên và cho cả muôn dân. Họ mang một trọng trách phải hoàn thành: đó đơn giản là phải rao truyền lời Đức Chúa Trời. Ngay cả khi các nhà tiên tri chỉ nhận lại sự nhạo báng cho những nỗ lực của mình, như Giê-rê-mi thường xuyên phải chịu đựng (Giê-rê-mi 20:8), họ vẫn phải kiên trì tiếp bước với một tinh thần không biết mệt mỏi.
Chẳng hạn, Giê-rê-mi biết rõ rằng lời phán truyền cho ông thực sự chính là “tiếng (qôl) của Đức Giê-hô-va” (Giê-rê-mi 38:20 RSV). Dân chúng cũng thấu hiểu điều này, bởi khi họ đáp lại sứ điệp của nhà tiên tri, họ đang vâng phục “tiếng của Đức Giê-hô-va,” Đức Chúa Trời của họ (Giê-rê-mi 42:6). Do đó, điệp khúc này đã vang vọng xuyên suốt các trang Kinh Thánh, từ thời Xuất Ê-díp-tô cho đến vị tiên tri cuối cùng: “Hãy lắng nghe tiếng Ta,” Đức Chúa Trời phán qua các nhà tiên tri của Ngài (Giê-rê-mi 11:7; Ha-gai 1:12). Như vậy, không có bất kỳ sự khác biệt cốt lõi nào giữa lời Đức Giê-hô-va được nghe qua nhà tiên tri và chính tiếng phán của Đức Giê-hô-va.
Còn mang tính ẩn dụ hơn nữa là cách diễn đạt “miệng” của Đức Giê-hô-va đã phán ra những gì nhà tiên tri vừa công bố (Ê-xê-chi-ên 3:17). Theo đó, nhà tiên tri chân thật sẽ rao truyền đúng điều mà miệng Đức Chúa Trời hướng dẫn ông nói, trong khi nhà tiên tri giả lại phát ra những điều xuất phát từ tấm lòng riêng tư của mình, chứ không phải từ miệng Đức Giê-hô-va (Giê-rê-mi 23:16).
Khi một vị vua muốn biết “một lời từ Đức Giê-hô-va,” ông sẽ sai người đến gặp nhà tiên tri để yêu cầu ông cầu vấn thay cho mình: “Có lời nào từ Đức Giê-hô-va chăng?” (Giê-rê-mi 37:17). Điều đó giống như trực tiếp cầu xin từ chính “miệng” Đức Giê-hô-va (Ê-sai 30:2). Khi người ta cầu xin một sấm ngôn từ Đức Chúa Trời, họ sẽ hỏi: “Đức Giê-hô-va đã đáp lời chi?” hoặc “Đức Giê-hô-va đã phán điều gì?” (Giê-rê-mi 23:35, 37). Qua đó, ta thấy lời của nhà tiên tri gắn kết mật thiết đến nhường nào với chính tâm ý của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời sẽ “đặt những lời ta trong miệng ngươi.” (Giê-rê-mi 1:9; Ê-xê-chi-ên 3:17), và những lời ấy đôi khi trở nên như “một ngọn lửa thiêu đốt, còn dân chúng là củi bị thiêu rụi” (Giê-rê-mi 5:14). Những lời phán từ Đức Chúa Trời mang tính xác tín đến mức chúng sẽ “đuổi kịp” và giáng họa trên những ai tưởng rằng mình đang ở ngoài phạm vi quyền năng và sự phán xét của chúng (Phục truyền Luật lệ Ký 28:15, 45; Xa-cha-ri 1:4–6). Có thể hình dung chính những lời phán ấy giống như những cảnh sát trên xe tuần tra, với đèn hiệu nhấp nháy trên nóc, buộc kẻ vi phạm phải tấp vào lề vì đã chống lại lời Đức Chúa Trời.
Mối quan hệ giữa Đức Giê-hô-va và các tác giả của lời thần thượng được minh họa hết sức rõ nét qua mối tương quan giữa Đức Chúa Trời, Môi-se và A-rôn (Xuất Ê-díp-tô Ký 4:15–16). Đức Chúa Trời sẽ chỉ dạy Môi-se những điều ông phải nói với A-rôn, và A-rôn sẽ đóng vai trò như một nhà tiên tri của Môi-se, người sẽ rao truyền chính những lời ấy cho Pha-ra-ôn. Do đó, A-rôn là ai đối với Môi-se trong phân đoạn này, thì mọi nhà tiên tri cũng chính là như vậy trong mối tương quan với Đức Giê-hô-va. Sự so sánh này không thể nào rõ ràng hơn, và mối liên kết cũng không thể nào trực tiếp hơn.
Đức Chúa Trời đã sử dụng nhiều phương cách khác nhau để truyền đạt ý chỉ cho các nhà tiên tri của Ngài. Nào là “miệng” Đức Chúa Trời, “tiếng” phán của Ngài, “khải tượng”, “giấc chiêm bao”, và “sự hiện ra” của Ngài, cùng vô vàn phương cách khác, đã được sử dụng để truyền tải sứ điệp cho từng nhà tiên tri vào những thời điểm khác nhau.
Người ta thường đặt câu hỏi liệu các nhà tiên tri có rơi vào trạng thái mất ý thức và viết hoặc nói năng như những cỗ máy tự động vô tri, như thể đang trong cơn xuất thần hoặc mê muội hay chăng. Hoàn toàn không có bất kỳ bằng chứng nào cho giả thuyết này, bởi vì các nhà tiên tri chưa bao giờ tỉnh thức và sáng suốt hơn chính là lúc họ tiếp nhận mặc khải. Khi không hiểu rõ ý nghĩa, họ đã thẳng thắn bày tỏ điều đó, bất kể mặc khải đến qua một giấc chiêm bao hay qua một lời phán. Đa-ni-ên và Xa-cha-ri thường cầu xin sự giải nghĩa nếu họ không thấu hiểu khải tượng hay giấc chiêm bao được ban cho mình. Sau đó, họ sẽ nhận được thêm một lời phán từ Đức Chúa Trời hoặc một lời giải thích từ thiên thần giải nghĩa. Đức Chúa Trời muốn các nhà tiên tri của Ngài thấu hiểu những gì họ viết và rao giảng, bởi xét cho cùng, đây chính là một “mặc khải”, một “sự tỏ bày”, một “sự vạch trần” những điều Đức Chúa Trời muốn phán truyền (1 Phi-e-rơ 1:10–12). Điều duy nhất mà các nhà tiên tri chưa thấu hiểu chính là “thời điểm” và “bối cảnh” xoay quanh thời điểm ấy. Tuy nhiên, họ đã biết rõ rằng mình đang rao giảng về Đấng Mê-si, về những sự thương khó của Ngài, sự tái lâm trong vinh hiển của Ngài, cũng như trình tự của hai lẽ thật vừa nêu; và họ cũng biết rằng những lời họ rao truyền không chỉ dành riêng cho thời đại của họ, mà còn cho cả những ngày tháng khi Phi-e-rơ đang rao giảng cho Hội Thánh nữa!
Nhưng liệu họ có nghe được một tiếng nói hữu thanh chăng? Một số người sẽ đặt câu hỏi như vậy. Rõ ràng là đôi khi họ đã thực sự nghe thấy, bởi há chẳng phải lễ báp-tem của Chúa Giê-xu đã đi kèm với chính hiện tượng này khi Đức Thánh Linh giáng lâm trên Ngài sao? Há chẳng có tiếng từ trời phán rằng: “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng” sao? Và Phao-lô cũng đã nghe thấy một tiếng phán khi ông quy đạo trên con đường đi bắt bớ thêm các Cơ Đốc nhân, mặc dù những người đi cùng ông lại cho rằng đó chỉ là tiếng sấm. Do đó, chúng ta có thể suy luận rằng đôi khi các nhà tiên tri cũng đã có trải nghiệm tương tự khi nghe thấy chính tiếng nói hữu thanh ấy.
Một điều đáng chú ý là các nhà tiên tri không chỉ chép rằng họ đã nghe lời Đức Chúa Trời, mà họ còn thường xuyên thuật lại rằng mình đã thấy lời ấy nữa. Những mặc khải tiên tri được xem như các khải tượng, ngay cả khi không có gì thực sự được “nhìn thấy” theo nghĩa đen thông thường. Chẳng hạn, A-mốt cho chúng ta biết về những “lời” mà ông đã “thấy” (A-mốt 1:1). Tương tự, trong chương thứ hai, Ê-sai thuật lại cách ông đã thấy lời Đức Chúa Trời trên núi của Chúa. Có lẽ chính vì lý do này mà ban đầu các nhà tiên tri được gọi là “người tiên kiến” (1 Sa-mu-ên 9:9) trước khi họ được gọi bằng danh xưng “nhà tiên tri” (nəḇîʾîm).
Tuy nhiên, 1 Cô-rinh-tô 2:13 chính là tuyên bố rõ ràng và xác quyết nhất mà chúng ta có được về bản chất của sự linh hứng và cách thức tiến trình này diễn ra trong hầu hết các trường hợp. Tại đây, Phao-lô lập luận rằng, cũng như không ai biết được ý tưởng của một người ngoài chính người ấy, thì cũng không ai biết được ý tưởng của Đức Chúa Trời ngoài Đức Thánh Linh. Và chính Đức Thánh Linh này là Đấng tiếp nhận những suy tưởng sâu kín của Đức Chúa Trời và mặc khải cho các nhà tiên tri của Ngài. Ngài thực hiện điều này bằng cách “diễn đạt các chân lý thuộc linh bằng những từ ngữ thuộc linh”. Như vậy, đây không phải là một sự kết hợp máy móc giữa thần linh và con người, mà là một sự hòa hợp sinh động giữa tài năng, cá tính của người viết với tâm trí của Đức Chúa Trời. Theo đó, mọi yếu tố đã góp phần chuẩn bị cho người viết — từ vốn từ vựng, các hình ảnh ẩn dụ trong cuộc sống, cho đến nghề nghiệp họ đã dấn thân trước khi nhận tiếng gọi của Đức Chúa Trời — tất cả đều đóng một vai trò thực sự trong tiến trình “huấn luyện” để trang bị những người nói cho vai trò tiên tri của họ.
Vậy, tiến trình truyền đạt từ Đức Chúa Trời và việc ghi chép thực tế các bản văn Kinh Thánh diễn ra như thế nào? Sự mô tả rõ nét nhất về tiến trình này được tìm thấy trong Giê-rê-mi chương 36. Tại đây, Giê-rê-mi cho chúng ta biết rằng ông có thói quen đọc cho thư ký của mình là Ba-rúc nghe “tất cả những lời Đức Giê-hô-va đã phán cùng ông” (c. 4). Sau đó, Ba-rúc sẽ chép lại những lời này vào một cuộn sách. Một sự thật đáng kinh ngạc là chưa đầy một thế kỷ sau, khi Đa-ni-ên đọc “Sách Thánh, theo lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho nhà tiên tri Giê-rê-mi” (Đa-ni-ên 9:2), những lời tiên tri của Giê-rê-mi đã được những người ở tận Babylon đọc đến và được xem như là “Kinh Thánh” và là lời đến từ chính Đức Chúa Trời. Điều này diễn ra rất lâu trước bất kỳ công đồng nào của cộng đồng Do Thái giáo hay Hội Thánh trong việc xác định đâu là sách thuộc quy điển và đâu là sách được linh hứng.
Đức Chúa Trời là Đấng đã phán lời Ngài cùng dân sự Ngài và mặc khải rõ ràng cho các nhà tiên tri. Về lẽ thật này, các nhà tiên tri đã liên tục và nhất quán làm chứng.