Phải chăng phụ nữ thấp kém hơn nam giới, chỉ được dựng nên để làm người giúp đỡ họ? Việc xem nam giới là người khởi xướng và phụ nữ là người phụ tá có phù hợp với văn bản Kinh Thánh không? Phải chăng điều đó khiến phụ nữ trở thành những bạn phối ngẫu xứng đáng cho nam giới?
Đấng Tạo Hóa xem hoàn cảnh của A-đam là chưa trọn vẹn và khiếm khuyết khi ông sống không có sự thông công hay một người bạn tương xứng. Đấng Tạo Hóa đã phán xét hoàn cảnh của A-đam một cách khá tiêu cực: “Điều đó không tốt.”
Truyền Đạo 4:9–12 cũng bày tỏ cùng một quan điểm về sự cô độc. Nhà hiền triết Sa-lô-môn đã khuyên:
Hai người hơn một… Nếu người nầy sa ngã, thì người kia sẽ đỡ bạn mình lên… Nếu hai người ngủ chung thì ấm; còn một mình thì làm sao ấm được? Lại nếu kẻ ở một mình bị người khác thắng, thì hai người có thế chống cự nó; một sợi dây bện ba lấy làm khó đứt.
Quả thật, trong Giê-rê-mi 16:1–9, tiên tri Giê-rê-mi được Đức Chúa Trời truyền lệnh phải sống độc thân, nhưng điều này mang ý nghĩa như một dấu hiệu cho thấy sự phán xét của Đức Chúa Trời trên dân sự đã gần đến mức việc kết hôn sẽ không còn ý nghĩa. Tuy nhiên, một đời sống sung mãn là đời sống tìm thấy sự trọn vẹn trong sự thông công với một người khác hoặc một nhóm người.
Trong ký thuật của Sáng Thế Ký, chúng ta thấy Đức Chúa Trời đã dựng nên người nữ sau khi dựng nên người nam. Điều này sẽ chấm dứt sự cô đơn của A-đam và tình trạng mà Đức Chúa Trời phán là “không tốt.” Nàng sẽ là “người giúp đỡ” của ông — ít nhất đó là cách hầu hết các bản dịch đã giải nghĩa từ này. Một số bản dịch tiêu biểu ghi như sau:
-
“Ta sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó” (BTT)
-
“Ta sẽ tạo nên một người giúp đỡ thích hợp với nó” (BTTHĐ)
-
“Ta sẽ dựng nên một bạn đời thích hợp để giúp đỡ nó” (BD2011)
-
“Ta sẽ dựng nên cho người một kẻ giúp đỡ thích hợp” (NVB)
Tuy nhiên, cách dịch thông thường của hai từ ˓ēzer keneḡdô thành “người giúp đỡ xứng đáng” hầu như chắc chắn là sai lầm. Gần đây, R. David Freedman đã chỉ ra rằng từ Hê-bơ-rơ ˓ēzer là sự kết hợp của hai gốc từ (root): ˓-z-r, có nghĩa là “giải cứu, cứu rỗi,” và ǵ-z-r, có nghĩa là “mạnh mẽ.” Sự khác biệt giữa hai từ này nằm ở chữ cái đầu tiên trong tiếng Hê-bơ-rơ. Ngày nay, chữ cái đó không được phát âm trong tiếng Hê-bơ-rơ, nhưng trong thời cổ đại, nó là một âm họng được phát ra từ sâu trong cổ họng. Chữ ǵ là âm ghayyin, và về sau nó được viết bằng cùng một ký tự Hê-bơ-rơ với một âm khác là ˓ayin. Nhưng việc chúng được phát âm khác nhau là điều rõ ràng qua các địa danh vẫn giữ lại âm g, chẳng hạn như Gaza hoặc Gô-mô-rơ. Một số ngôn ngữ Semitic có phân biệt hai ký tự này, số khác thì không; ví dụ, tiếng Ugaritic có phân biệt giữa ˓ayin và ghayyin; còn tiếng Hê-bơ-rơ thì không (R. David Freedman, “Woman, a Power Equal to a Man,” Biblical Archaeology Review 9 [1983]: 56–58).
Dường như vào khoảng năm 1500 TCN, hai ký tự này bắt đầu được đại diện bởi một ký tự duy nhất trong tiếng Phoenician. Do đó, hai âm vị đã sáp nhập thành một ký tự, và hai gốc từ vốn khác biệt đã hợp nhất thành một, giống như trong tiếng Anh, một từ “fast” có thể chỉ tốc độ của một người, sự kiêng ăn, sự xảo quyệt trong một “thương vụ nhanh chóng” hoặc cách kiên quyết mà ai đó bám “chặt” vào lập trường. Danh từ ˓ēzer xuất hiện hai mươi mốt lần trong Cựu Ước. Trong nhiều phân đoạn, nó được sử dụng trong phép đối song (parallelism) với những từ rõ ràng biểu thị sức mạnh hoặc quyền năng.
Lập luận bắt đầu được xây dựng ở đây là chúng ta có thể chắc chắn rằng ˓ēzer có nghĩa là “sức mạnh” hoặc “quyền năng” bất cứ khi nào nó được sử dụng trong phép đối song với những từ chỉ sự oai nghiêm hoặc các từ khác chỉ quyền năng như ˓oz hoặc ˓uzzo. Thực tế, việc một vị vua có hai tên, A-xa-ria và Ô-xia (cả hai đều ám chỉ sức mạnh của Đức Chúa Trời), làm sáng tỏ một cách đầy đủ rằng gốc từ ˓ēzer mang nghĩa “sức mạnh” đã được biết đến trong tiếng Hê-bơ-rơ.
Do đó, tôi đề nghị chúng ta nên dịch Sáng Thế Ký 2:18 là: “Ta sẽ làm nên một quyền năng [hoặc sức mạnh] tương xứng với người nam.” Freedman thậm chí còn đề xuất, dựa trên tiếng Hê-bơ-rơ giai đoạn sau, rằng từ thứ hai trong cụm từ Hê-bơ-rơ ở câu này nên được dịch là ngang hàng với người. Nếu đúng như vậy, thì Đức Chúa Trời đã dựng nên cho người nam một người nữ hoàn toàn ngang hàng và hoàn toàn tương xứng với ông. Bằng cách này, sự cô đơn của người nam sẽ được xoa dịu.
Cùng một mạch lập luận này xuất hiện trong sứ đồ Phao-lô. Ông đã truyền đạt trong 1 Cô-rinh-tô 11:10, “Vì cớ đó, người nữ phải có quyền năng [hoặc thẩm quyền] trên đầu mình [tức là được ban cho].”
Mạch lập luận nhấn mạnh sự bình đẳng trọn vẹn này được tiếp nối trong Sáng Thế Ký 2:23, khi A-đam nói về Ê-va, “Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người nầy sẽ được gọi là người nữ, vì nó do nơi người nam mà có.” Ý nghĩa thành ngữ của cụm từ “xương bởi xương tôi” là một “người bà con rất gần,” “một trong chúng ta” hay nói cách khác là “người ngang hàng với chúng ta.”
Người nữ chưa bao giờ được dự định làm một phụ tá hay “bạn giúp đỡ” cho người nam. Từ “mate” (bạn đời) đã lọt vào tiếng Anh vì nó rất gần với từ “meet” trong tiếng Anh cổ, có nghĩa là “xứng với” hoặc “tương xứng với” người nam. Tất cả đều bắt nguồn từ cụm từ mà tôi cho rằng có khả năng cao nghĩa là “ngang hàng với.”
Vậy thì, điều Đức Chúa Trời dự định là làm nên một “quyền năng” hoặc “sức mạnh” cho người nam, người mà trong mọi phương diện sẽ “tương xứng với ông” hoặc thậm chí “ngang hàng với ông.”
Xem thêm giải thích cho Sáng thế ký 2:20-23; 1 Cô-rinh-tô 11:7; Ê-phê-sô 5:22; và 1 Ti-mô-thê 2:11-12