Liệu điều răn thứ sáu có phải là lệnh cấm tước đoạt mọi hình thức sự sống dưới bất kỳ hình thức nào hay không? Hay nó chỉ giới hạn ở việc tước đoạt mạng sống con người, như bản dịch Truyền thống gợi ý? Và nếu nó chỉ giới hạn ở việc tước đoạt mạng sống con người, liệu đó có phải là lệnh cấm áp dụng trong mọi hoàn cảnh, bằng mọi phương pháp, vì mọi lý do và trong mọi thời đại hay không?

Tiếng Hê-bơ-rơ có bảy từ liên quan đến sự giết chóc, và từ được sử dụng trong điều răn thứ sáu này chỉ xuất hiện bốn mươi bảy lần trong Cựu Ước. Động từ Hê-bơ-rơ này, rāṣaḥ, chỉ đề cập đến việc giết một người, không bao giờ đề cập đến việc giết động vật, và thậm chí không đề cập đến việc giết người trong chiến tranh. Từ này không hàm ý bất kỳ phương thức giết người nào.

Nếu có bất kỳ từ nào trong bảy từ chỉ hành vi giết người trong Cựu Ước mang ý nghĩa mà chúng ta gọi là “giết người”, thì đó chính là động từ này. Nó hàm ý sự tính toán trước và có chủ đích. Không có ngoại lệ nào, đặc biệt là trong các giai đoạn sau của Cựu Ước, từ này đề cập đến hành vi giết người có chủ đích và bạo lực (Thi thiên 94:6; Châm ngôn 22:13; Ê-sai 1:21; Giê-rê-mi 7:9; Ô-sê 4:2; 6:9). Trong mỗi trường hợp, hành động đó trước tiên được hình thành trong tâm trí và nạn nhân được chọn một cách có chủ ý.

Do đó, Cựu Ước sẽ không bao giờ dùng động từ này để chỉ việc giết thú vật làm thức ăn (Sáng Thế Ký 9:6) hay việc dân tộc tham gia vào một cuộc chiến do Đức Chúa Trời ra lệnh. Tuy nhiên, Cựu Ước sẽ dùng động từ này để chỉ hành vi tự sát và hành vi của những kẻ đồng lõa trong một vụ giết người (2 Sa-mu-ên 12:9).

Cần lưu ý rằng Dân Số ký 35:31 phân biệt rõ ràng tội giết người — một tội danh phải chịu án tử hình — với gần hai mươi tội danh khác cũng bị xử tử. Các nhà giải thích Do Thái và hiện đại từ lâu đã cho rằng, vì câu Kinh Thánh này cấm việc “đòi tiền chuộc mạng cho kẻ giết người” — tức là một hình thức thay thế nào đó — nên trong tất cả các trường hợp khác, có thể áp dụng hình thức thay thế cho án tử hình. Tuy nhiên, tội giết người lại nghiêm trọng đến mức án tử hình phải được thi hành.

Trong trường hợp kẻ trộm đột nhập vào nhà vào ban đêm, lệnh cấm trong câu này không áp dụng, và động từ rāṣaḥ không được sử dụng (Xuất 22:2). Lệnh truyền này cũng không áp dụng cho các trường hợp giết người vô ý — tức là các trường hợp ngộ sát (Phục truyền 19:5) — hoặc việc thi hành án tử hình đối với những kẻ giết người bởi cơ quan có thẩm quyền của nhà nước (Sáng Thế Ký 9:6).

Sự sống quá thiêng liêng đối với Đức Chúa Trời đến nỗi tất cả các hình thức bạo lực lấy đi mạng sống con người đều làm cho tội lỗi giáng xuống trên đất. Điều này đúng với cả tội ngộ sát và tội giết người có chủ ý. Cả hai hình thức giết chóc đều đòi hỏi hình thức chuộc tội.

Lý do khiến sự sống trở nên vô cùng quý giá là vì người nam và người nữ đều được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Chính vì vậy, mạng sống của kẻ giết người thuộc về Đức Chúa Trời, chứ không phải thuộc về những người thân của nạn nhân hay xã hội. Hình phạt tử hình đối với tội giết người đã và vẫn tiếp tục được quy định bởi vì Đức Chúa Trời tôn vinh hình ảnh của Ngài trong toàn thể nhân loại. Việc không thực hiện nhiệm vụ này, xét cho cùng, chính là sự tấn công vào giá trị, ý nghĩa và phẩm giá của tất cả mọi người. Điều này cũng làm suy yếu các cuộc đấu tranh khác, bao gồm cuộc đấu tranh vì bình đẳng chủng tộc, quyền của phụ nữ, quyền công dân và quyền của phôi thai người — tất cả đều dựa trên cùng một thực tế rằng con người được tạo ra theo “hình ảnh của Đức Chúa Trời.”

Cuộc sống đã và vẫn luôn là điều thiêng liêng đối với Đấng Ban Sự Sống. Dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, con người cũng không được tự kết liễu mạng sống mình hay rình rập để cướp đi mạng sống của người khác. Cuộc sống quý giá đến mức, dù có sa ngã đến đâu, thì cách duy nhất để tẩy rửa tội ác do việc giết người gây ra chính là sự chuộc tội trước mặt Đức Chúa Trời. Mỗi vụ giết người đều để lại tội máu trên mảnh đất ấy cho đến khi được giải quyết và chuộc tội.

Xem thêm giải thích cho Dân Số ký 35:21; Các Quan xét 5:24-27.