Tầm quan trọng của câu nói này được khẳng định qua việc nó xuất hiện trong các bối cảnh sau này như Ê-xê-chi-ên 20:11, Lu-ca 10:28, Rô-ma 10:5 và Ga-la-ti 3:12. Tuy nhiên, đây cũng là một câu nói khó hiểu. Văn bản dường như đề xuất một phương pháp thay thế để đạt được sự sống đời đời, dù chỉ trên lý thuyết. Liệu có đúng không, trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, rằng một người có thể có được sự sống đời đời bằng cách tuân giữ luật pháp của Đức Chúa Trời một cách hoàn hảo? Nói cách khác, liệu chúng ta có thể hiểu câu nói này là “Hãy làm điều này và bạn sẽ có được sự sống [đời đời]” không?
Thật không may, quá nhiều nhà giảng dạy Kinh Thánh đã vô tư cho rằng sống theo luật pháp có nghĩa là “sự sống đời đời sẽ được ban cho nhờ việc tuân giữ các luật lệ của Đức Chúa Trời.” Theo đó, nếu một người tuân giữ các điều răn này một cách hoàn hảo, chính việc tuân giữ đó sẽ là sự sống đời đời.
Tuy nhiên, lập luận này đã bỏ qua một lượng lớn bằng chứng trái ngược, trong đó quan trọng nhất là những ân huệ từ kế hoạch hứa hẹn của Đức Chúa Trời dành cho các tín hữu Cựu Ước không phụ thuộc vào bất kỳ điều kiện nào, huống chi là sự vâng lời. Quan điểm như vậy sẽ phủ nhận lời chúc phước vô điều kiện mà Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp và Đa-vít.
Nhưng còn những lời khẳng định “nếu các ngươi vâng theo lời Ta cách trọn vẹn” trong Xuất Ê-díp-tô Ký 19:5, Lê-vi Ký 26:3–13 và Phục Truyền Luật Lệ Ký 11:13–15 và 28:1 thì sao? Chẳng phải những đoạn văn này khẳng định một cách dứt khoát rằng nếu không vâng lời thì không thể được cứu rỗi sao?
Mệnh đề “nếu” quả thực mang tính điều kiện, nhưng điều kiện dựa trên điều gì? Nó chỉ mang tính điều kiện đối với việc được hưởng trọn vẹn những ân huệ của một mối quan hệ bắt đầu từ đức tin và được Đức Chúa Trời ban tặng một cách tự do. Dân Y-sơ-ra-ên phải vâng theo tiếng phán của Đức Chúa Trời và tuân giữ giao ước cùng các điều răn của Ngài, không phải “để” thiết lập cuộc sống mới của họ trong Đức Chúa Trời, mà là “để” (Phục truyền 5:33) họ có thể trải nghiệm trọn vẹn cuộc sống mới này, vốn đã bắt đầu từ đức tin.
Chính bối cảnh của câu Kinh Thánh này đã bác bỏ quan điểm về sự cứu rỗi nhờ việc làm.
-
Thứ nhất, Lê-vi ký chương 18 bắt đầu và kết thúc với giả định thần học rằng những người nghe có Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của họ. Do đó, lời dạy này đề cập đến sự thánh hóa (sanctification) chứ không phải sự xưng công chính (justification).
-
Thứ hai, “những điều” mà họ không được làm chính là các phong tục và lễ nghi; nói tóm lại, đó là những hành vi thờ thần tượng ngoại đạo của người Ai Cập và người Ca-na-an. Đây là một vấn đề hoàn toàn khác biệt so với vấn đề cứu rỗi.
-
Thứ ba, trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, việc làm đẹp lòng Đức Chúa Trời chưa bao giờ chỉ đơn thuần là việc thực hiện các hành động bên ngoài; những hành động đó chính là bằng chứng cho thấy một thái độ trong lòng đã có từ trước. Chẳng hạn, việc cắt bì thể xác mà không có sự cắt bì trong lòng chỉ là công cốc.
Thực ra, Chúa chúng ta đã gắn liền hành động với tấm lòng khi dân chúng thề rằng: “Mọi điều Chúa phán, chúng tôi sẽ làm.” Một cách độc đoán, có người gọi lời thề đó là bồng bột, cho rằng dân chúng thật ngu ngốc khi tin vào một lời hứa mà họ sẽ không bao giờ có thể thực hiện được.
Nhưng Chúa chúng ta lại không nhìn nhận vấn đề theo cách đó. Thay vào đó, Ngài đã nói một cách rõ ràng: “Ôi, giá như họ có một tấm lòng như thế, để luôn kính sợ Ta và tuân giữ các điều răn của Ta.” Chúa chúng ta gắn kết hành động của họ với tấm lòng. Ngài chưa bao giờ quở trách họ bằng cách nói: “Ôi, những con người lầm lạc làm sao! Với thành tích trong quá khứ của các ngươi, làm sao các ngươi lại có thể hy vọng được vào thiên đàng của Ta bằng cách tuân giữ bất kỳ điều luật nào của Ta?” Không có một lời nào đề cập đến điều này. Do đó, không thể nói rằng câu Kinh Thánh này dạy về một lời đề nghị cứu rỗi giả định dựa trên việc làm.
Một số người có thể lập luận rằng cụm từ “làm theo điều đó”, được trích dẫn trong Rô-ma 10:5 và Ga-la-ti 3:12, chắc chắn có nghĩa là trong những bối cảnh đó, sự cứu rỗi là “bằng cách” làm việc lành (cách dùng giới từ mang tính công cụ). Tôi trả lời rằng cụm từ này nên được dịch là “sống trong phạm vi của những việc ấy” (cách dùng giới từ mang tính vị trí).
Do đó, Môi-se không phải đang mô tả con đường dẫn đến sự cứu rỗi, mà chỉ nêu lên viễn cảnh mà trong đó một cuộc sống trần thế nhưng thánh thiện nên được sống.
Xem thêm giải thích cho Sáng Thế ký 26:3-5; Mi-chê 6:6-8; Phi-líp 2:12-13; Gia-cơ 2:24.