Trong Ma-la-chi 3:6, Đức Chúa Trời xác nhận: “Ta là Đức Giê-hô-va, ta không hề thay đổi.” Đây là lý do tại sao giáo lý Cơ đốc dạy rằng Đức Chúa Trời là bất biến — nghĩa là không thể thay đổi. Lời hứa về sự bền vững và trường tồn trong bản tính và đặc tính của Đức Chúa Trời đã đem lại sự an ủi sâu sắc cho nhiều tín đồ qua các thời đại. Khi mọi vật khác đều thay đổi, chúng ta có thể nhớ rằng Đức Chúa Trời hằng sống không hề thất bại hay dao động bất cứ điều gì thuộc về bản thể Ngài hoặc những gì Ngài đã hứa.
Vì lý do đó, nhiều người thực sự bị choáng váng khi đọc rằng Chúa “tự trách” hay “hối hận” vì đã tạo dựng người nam và người nữ trên đất (Sáng thế Ký 6:6). Làm thể nào cả sự bất biến và sự thay đổi của Đức Chúa Trời đều được dạy trong cùng một bản Kinh Thánh?
Kinh Thánh thường dùng cụm từ “Đức Chúa Trời đổi ý.” Chẳng hạn, Xuất Ê-díp-tô Ký 32:14 (BTTHĐ) chép: “Đức Giê-hô-va đổi ý không giáng tai họa mà Ngài định giáng xuống trên dân Ngài.” Hay trong I Sa-mu-ên 15:11: “Ta hối hận vì đã lập Sau-lơ làm vua; bởi người đã xây bỏ ta, không làm theo lời ta.” Lại nữa, trong Giê-rê-mi 26:3: “Hoặc giả chúng nó nghe ngươi, và ai nấy sẽ từ đường xấu mình trở lại; hầu cho ta ăn năn về họa mà ta định làm cho chúng nó, vì sự dữ của việc làm chúng nó.” (Xem thêm Giê-rê-mi 26:13, 19; Giô-na 3:10).
Gốc từ Hê-bơ-rơ đằng sau tất cả những từ được dịch khác nhau là “ăn năn”, “hối hận”, “đau buồn” và “buồn rầu” là nḥm. Về nguồn gốc, gốc từ này có lẽ phản ánh ý tưởng về sự thở dài hoặc rên siết sâu. Nó gợi ý một sự biểu hiện bên ngoài của cảm xúc — buồn rầu, thương xót hoặc an ủi. Gốc từ này được phản ánh trong các tên riêng như Nê-hê-mi, Na-hum và Mê-na-hem.
Khi sự ăn năn của Đức Chúa Trời được đề cập, vấn đề không phải là Ngài đã thay đổi trong đặc tính hoặc những gì Ngài tiêu biểu. Thay vào đó, điều chúng ta có là một thuật ngữ của loài người được dùng để chỉ — một cách khá bất toàn — một hành động thiêng liêng hoàn toàn tốt lành và cần thiết. Thuật ngữ như vậy được gọi là một phép nhân hình hóa (anthropomorphism).
Khi Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời ăn năn, ý tưởng là cảm xúc của Ngài đối với một người hoặc một nhóm người nào đó đã thay đổi để đáp ứng với một sự thay đổi nào đó từ phía đối tượng của hành động Ngài hoặc một đấng trung gian nào đó đã can thiệp (thường là theo sự hướng dẫn và chương trình của chính Đức Chúa Trời). Thường thì trong chính những phân đoạn công bố sự ăn năn của Đức Chúa Trời, cũng có một sự phủ nhận dứt khoát về bất kỳ sự thay đổi nào trong kế hoạch, mục đích hoặc đặc tính của Ngài. Vì vậy, I Sa-mu-ên 15:29 nhắc nhở chúng ta rằng “Đấng phù hộ Y-sơ-ra-ên chẳng nói dối, và không ăn năn; vì Đấng ấy chẳng phải loài người mà ăn năn!” Thế nhưng Sa-mu-ên đã tuyên bố điều đó một ngày sau khi Chúa phán với ông rằng Ngài đau buồn vì đã lập Sau-lơ làm vua (I Sa-mu-ên 15:11).
Vậy, từ góc nhìn con người của chúng ta, có vẻ như việc sử dụng từ này cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã thay đổi mục đích của Ngài. Nhưng cụm từ “ăn năn,” khi được dùng cho Đức Chúa Trời, mang tính nhân cảm hóa (anthropopathic) — nghĩa là sự mô tả về Chúa chúng ta bằng những thuật ngữ chỉ cảm xúc và tình cảm của loài người.
Trong Sáng thế Ký 6:6, sự ăn năn của Đức Chúa Trời là phản ứng chính đáng của Ngài trước tội lỗi và sự gian ác tiếp diễn không ngừng trên thế gian. Mệnh đề song song nói rằng tội lỗi làm đầy lòng Ngài bằng sự đau đớn. Điều này không biểu thị sự thay đổi nào trong mục đích hay đặc tính của Ngài. Nó chỉ chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời có cảm xúc và tình cảm, và Ngài có thể và thực sự đáp ứng với chúng ta hoặc lành hoặc dữ khi chúng ta đáng nhận lãnh.
Điểm mấu chốt là sự bất biến không được nghĩ đến như một loại bất động cứng nhắc. Đức Chúa Trời không phải là một hữu thể vô tri không thể đáp ứng khi hoàn cảnh hoặc con người thay đổi. Trái lại, Ngài là một thân vị sống động, và với tư cách đó, Ngài có thể và thực sự thay đổi khi hoàn cảnh đòi hỏi. Ngài không thay đổi trong đặc tính, thân vị hay kế hoạch của Ngài. Nhưng Ngài có thể và thực sự đáp ứng với những thay đổi của chúng ta.
Xem thêm giải thích cho 1 Sa-mu-ên 15:29; Giô-na 4:1-2.