Lập luận dựa trên những lời tiên tri đã ứng nghiệm trong Kinh Thánh, về bản chất, là một lập luận khởi phát từ thuộc tính toàn tri—khẳng định rằng Đức Chúa Trời vừa có khả năng thấu biết vừa có quyền năng phán báo trước tương lai. Quả thật, đó chính là lời tuyên bố mà Ê-sai 41:22–23 đã đưa ra:

22 Phải, hãy thuật lại đi! Hãy rao cho chúng ta điều sẽ xảy đến! Hãy tỏ ra những điều đã có lúc trước, cho chúng ta để ý nghiệm sự cuối cùng nó là thế nào, hay là bảo cho chúng ta biết những sự hầu đến. 23 Hãy rao những việc sẽ xảy đến sau nầy, cho chúng ta biết các ngươi là thần, cũng hãy xuống phước hoặc xuống họa đi, hầu cho chúng ta cùng nhau xem thấy và lấy làm lạ…

Đó cũng chính là lý do mà tiêu chuẩn để thử nghiệm một nhà tiên tri trong Phục truyền Luật lệ Ký 18:22 là:

22 Khi kẻ tiên tri nhân danh Đức Giê-hô-va nói, ví bằng lời người nói không xảy đến và không ứng nghiệm, ấy là lời mà Đức Giê-hô-va chẳng có phán. Kẻ tiên tri đó bởi sự kiêu ngạo mà nói ra: chớ sợ người.

Tuy nhiên, những luận điệu chống lại các lời tiên tri trong Kinh Thánh vẫn tiếp tục diễn ra không ngừng nghỉ cho đến tận thời đại ngày nay. Những lời phản bác thường cho rằng ngôn ngữ tiên tri thường quá mơ hồ, các lời tiên tri được ứng nghiệm một cách gượng ép do con người cố ý sắp đặt, các lời tiên tri thực chất được viết ra sau khi những sự kiện mà họ được cho là đã dự báo đã diễn ra, sự ứng nghiệm của chúng hoàn toàn là do cách hiểu sai lệch, và hiện tượng tương tự cũng xuất hiện trong các tôn giáo khác.

Thế nhưng, tất cả những luận điệu phản bác này đều hoàn toàn vô căn cứ. Chẳng hạn, những gì bị cho là “mơ hồ” chắc chắn sẽ trở nên rõ ràng và sắc nét hơn qua tiến trình mặc khải, và được tỏ bày trọn vẹn vào thời điểm lời tiên tri ứng nghiệm. Và việc cho rằng đó là một sự ứng nghiệm do con người cố ý sắp đặt đòi hỏi người ta phải có một “niềm tin” mù quáng còn lớn hơn cả việc tin vào chính những lời tiên tri ấy. Bởi lẽ, làm sao một nhà tiên tri đơn lẻ có thể dàn xếp hay sắp đặt những biến cố phức tạp và mang tầm vóc lịch sử như cuộc lưu đày tại Babylon? Làm sao một cá nhân, hay thậm chí một nhóm người, có thể sắp đặt để một hài nhi sinh ra tại Bết-lê-hem, thuộc chi phái Giu-đa, thuộc dòng dõi vua Đa-vít, được Giăng Báp-tít rao báo trước, để rồi thực hiện những công việc mà Chúa Giê-xu đã làm y theo những lời tiên đoán của Kinh Thánh, chịu chết trên thập tự giá và sống lại vào ngày thứ ba?

Tương tự, việc cáo buộc rằng những lời tiên tri này là vaticinium ex eventu (những lời tiên tri được viết sau khi sự kiện đã xảy ra) đồng nghĩa với việc người phản bác phải cực kỳ tự tin vào khả năng xác định niên đại của chính mình đối với các sự kiện như những lời tiên tri trong Ê-sai 40–66, sách Đa-ni-ên, hay Bài Giảng trên Núi Ô-li-ve trong Ma-thi-ơ 24–25!

Nhưng còn một yếu tố khác đang chi phối lối tư duy này, được minh họa qua bản chú giải gần đây của W. S. Towner về Đa-ni-ên chương 8:

“Chúng ta cần phải giả định rằng toàn bộ khải tượng này thực chất là một lời tiên tri được viết sau khi sự kiện đã xảy ra. Tại sao vậy? Bởi vì con người vốn không thể tiên báo chính xác các biến cố tương lai từ hàng thế kỷ trước; và việc khẳng định Đa-ni-ên có thể làm được điều đó, dẫu dựa trên một mặc khải biểu tượng được Đức Chúa Trời đặc ân ban cho và được thiên thần giải nghĩa, thì cũng chỉ là đi ngược lại những quy luật tất yếu của bản tính con người. Do đó, những gì chúng ta có ở đây thực chất không phải là một ’lộ trình tương lai’ được vạch ra từ thế kỷ thứ VI TC, mà chỉ là một lời giải thích cho các biến cố diễn ra ngay trong thời đại của chính tác giả, tức khoảng năm 167–164 TC.”

Sự hoài nghi của Towner đối với lời tiên tri của Đa-ni-ên bắt nguồn từ chính “những quy luật tất yếu của bản tính con người” mà ông tôn sùng. Đây rõ ràng là một sự phủ nhận quyền năng tối thượng của Đức Chúa Trời và khả năng truyền đạt lời phán Ngài cho các tôi tớ tiên tri, để rồi đặt niềm tin tuyệt đối vào “bản tính con người” như một chân lý “chắc chắn” hơn! Không thể có ví dụ nào điển hình hơn cho thấy các tiền giả định và vòng tròn giải nghĩa (hermeneutical circle) của một người đã chi phối mạnh mẽ đến kết luận của bất kỳ công trình nghiên cứu nào về lời tiên tri dự báo.

Một số người khác lại viện đến luận đề “hiểu sai ý nghĩa”, cho rằng cái gọi là lời tiên tri ứng nghiệm thực chất chỉ là những trùng hợp ngẫu nhiên về mặt ngôn ngữ. Quả thật, Tân Ước đôi khi có những ám chỉ đến Cựu Ước, chính xác là vì ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện chuyên chở sứ điệp và ý nghĩa mà các tác giả muốn truyền tải. Thế nhưng, những trường hợp này rất hiếm hoi và không bao giờ được dùng để biện minh cho một lời tiên tri đã ứng nghiệm.

Những người trích dẫn Ô-sê 11:1, “Ta đã gọi con trai ta ra khỏi Ê-díp-tô”, để cho rằng Ma-thi-ơ 2:15 đã hiểu sai ý nghĩa kinh văn, đã không hề để ý rằng lời này được trích dẫn ngay khi Chúa Giê-xu cùng song thân vừa đến Ê-díp-tô, chứ không phải khi họ rời khỏi đó. Lý do Ma-thi-ơ trích dẫn phân đoạn này từ Ô-sê không nằm ở cụm từ “ra khỏi” Ê-díp-tô vốn thường bị nhấn mạnh sai lệch, mà là dựa trên nguyên tắc “sự liên đới tập thể” giữa “Con Trai Ta” với dân tộc đã vượt qua Biển Đỏ. Như vậy, sự giải cứu kỳ diệu của Đức Chúa Trời trong quá khứ được dùng như một hình bóng để nhắc nhớ về một cuộc giải cứu khác — lần này không phải thoát khỏi bàn tay của Pha-ra-ôn, mà là thoát khỏi bàn tay tàn độc của Hê-rốt!

Cuối cùng, việc cho rằng hiện tượng tương tự cũng xuất hiện trong các tôn giáo khác buộc chúng ta phải chất vấn: “Nơi nào chứ?” Mặc dù lịch sử các dân tộc ngoại giáo tràn ngập những câu chuyện về điềm báo, sấm truyền và những lời tiên đoán rời rạc, nhưng khoảng cách giữa phẩm giá và độ tin cậy của các lời tiên tri trong Kinh Thánh so với những lời trong các kinh sách của các tôn giáo khác là một vực thẳm. Các lời sấm ngoại giáo hầu như không hề góp phần vào bất kỳ kế hoạch cứu chuộc vĩnh cửu nào bao trùm lịch sử và sự cứu rỗi của thế giới; thay vào đó, chúng chỉ đóng vai trò như những điều kỳ bí thỏa mãn những tò mò cá nhân, hoặc giúp ích cho mưu đồ của một nhà lãnh đạo quân sự hay chính trị nào đó trong những tình thế cấp bách. Hoàn toàn vắng bóng mọi mối liên kết mang tính toàn cầu, phổ quát và cứu rỗi.

Kể từ thế kỷ thứ XIX, người ta thường có xu hướng chỉ ra những ví dụ sau đây về các lời tiên tri được cho là đã không ứng nghiệm trong Kinh Thánh:

  1. Lời tiên tri về sự tàn phá thành Ty-rơ (Tyre) bởi Nê-bu-cát-nết-sa (Nebuchadnezzar) (Ê-xê-chi-ên 26:7–14; 29:17–20).

  2. Lời tiên tri của Giô-na (Jonah) về sự hủy diệt Ni-ni-ve (Nineveh) (Giô-na 3:4).

3.Lời tiên tri của Ê-li (Elijah) chống lại Vua A-háp vì tội sát hại Na-bốt (Naboth) (1 Các Vua 21:17–29).

  1. Lời tiên tri của Ê-sai về sự tàn phá Đa-mách (Damascus) (Ê-sai 17:1).

BA THỂ LOẠI TIÊN TRI TRONG KINH THÁNH#

Cái gọi là sự không ứng nghiệm của các lời tiên tri cần được giải thích dựa trên ba thể loại tiên tri trong Kinh Thánh; cụ thể là, một lời tiên tri có thể ứng nghiệm một cách vô điều kiện, hữu điều kiện, hoặc theo trình tự. Cả ba thể loại này đều được các nhà tiên tri sử dụng phổ biến và đi kèm với những dấu hiệu trong văn bản giúp người đọc và người giải kinh phân biệt chúng.

Danh sách các lời tiên tri vô điều kiện không dài, nhưng chúng đóng vai trò trung tâm, bởi vì phần lớn chúng liên quan đến sự cứu rỗi của chúng ta. Chúng được gọi là vô điều kiện vì được Đức Chúa Trời thiết lập một cách đơn phương, không đòi hỏi bất kỳ điều kiện nào từ phía con người để duy trì phần cam kết của họ trong giao ước. Cũng như chỉ một mình Đức Chúa Trời đã băng qua các mảnh thịt hiến tế trong Sáng Thế Ký 15, ngụ ý rằng nếu Ngài không thực hiện điều đã hứa với Áp-ra-ham trong Giao ước Áp-ra-ham, Ngài sẽ tự chuốc lấy sự rủa sả, thì theo đó, cùng một nghĩa vụ một chiều như vậy cũng áp dụng cho các giao ước khác thuộc cùng thể loại này. Đó là Giao ước về các mùa của Đức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 8:21–22), lời hứa của Ngài với Áp-ra-ham (Sáng Thế Ký 12:2–3; 15:9–21), lời hứa với Đa-vít (2 Sa-mu-ên 7:8–16), lời hứa về Giao ước Mới (Giê-rê-mi 31:31–34) và lời hứa về trời mới đất mới (Ê-sai 65:17–19; 66:22–24).

Tuy nhiên, phần lớn các lời tiên tri lại thuộc thể loại hữu điều kiện. Chúng ẩn chứa một điều kiện ngầm định dưới dạng “nếu không” hoặc “nếu các ngươi vâng giữ các điều răn Ta”. Lê-vi Ký 26 và Phục truyền Luật lệ Ký 28, với hai viễn cảnh tương phản giữa phước hạnh cho sự vâng lời và rủa sả cho sự bất phục, đã được mười sáu nhà tiên tri trước thuật trích dẫn hoặc ám chỉ đến hàng trăm lần. Chính tính chất điều kiện trong lời cảnh cáo hay lời hứa mà nhà tiên tri truyền đạt đã giải thích cho trường hợp nổi tiếng của nhà tiên tri Giô-na. Mặc dù đúng là ông chỉ được sai đến để cảnh báo dân chúng rằng trong bốn mươi ngày nữa, sự hủy diệt sẽ giáng xuống từ Đấng Toàn Năng, nhưng dân chúng dường như đã suy luận từ chính trải nghiệm được giải cứu của Giô-na (Há chẳng phải Chúa Giê-xu đã phán rằng chính Giô-na là một “dấu hiệu” cho dân Ni-ni-ve sao? Dấu hiệu của điều gì? Của lòng thương xót?) rằng Đức Chúa Trời có thể tỏ lòng thương xót và xây bỏ sự phán xét mà Ngài đã công bố. Họ đã giả định rằng một Đức Chúa Trời như vậy hẳn phải có một chữ “nếu không” hoặc “nếu” ngầm định trong lời đe dọa về thảm họa khốc liệt. Và họ đã đoán đúng, điều này khiến Giô-na vô cùng uất ức. Nguyên tắc này đã được trình bày một cách chính thức trong Giê-rê-mi 18:7–10:

7 Trong lúc nào ta sẽ nói về một dân một nước kia đặng nhổ đi, hủy đi, diệt đi; 8 nếu nước mà ta nói đó xây bỏ điều ác mình, thì ta sẽ đổi ý ta đã toan giáng tai họa cho nó. 9 Cũng có lúc nào ta sẽ nói về một dân một nước kia đặng dựng nó, trồng nó; 10 nếu nước ấy làm điều ác trước mắt ta và không nghe tiếng ta, thì ta sẽ đổi ý ta đã định xuống phước cho nó.

Việc Đức Chúa Trời xây bỏ sự phán xét (hoặc sự giải cứu) mà Ngài đã phán truyền, dựa trên điều kiện ăn năn và đổi thay, không chỉ hiệu nghiệm khi Ngài xử lý với cả một dân tộc mà còn áp dụng cho từng cá nhân. Đó chính xác là điều đã xảy ra với A-háp trong 1 Các Vua 21:25–29, sau khi ông “hạ mình” trước mặt Đức Giê-hô-va vì những gì ông và Giê-sa-bên đã làm khi lập mưu sát hại Na-bốt. Sau khi phán rằng “chưa hề có ai giống như A-háp, đã bán mình làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va” (1 Các Vua 21:25), Đức Chúa Trời đã truyền cho nhà tiên tri Ê-li phải rút lại lời phán xét mà ông vừa mới tuyên bố chống lại A-háp, phán rằng: “Bởi vì người hạ mình xuống trước mặt ta, ta không giáng họa trong đời nó; nhưng trong đời con trai nó ta sẽ giáng họa trên nhà nó. " (1 Các Vua 21:29). Đây là một ví dụ điển hình về nguyên tắc hữu điều kiện trong các lời tiên tri khi được áp dụng ở cấp độ cá nhân. Thiết nghĩ, nếu con trai ông cũng biết ăn năn, thì sự phán xét đã được cảnh cáo cũng sẽ được cất khỏi con trai ông và thế hệ đó, nhờ cùng một sự định liệu đầy lòng thương xót của Đức Chúa Trời.

Tuy nhiên, có một số lời tiên tri không hoàn toàn phù hợp với cả hai thể loại vô điều kiện hay hữu điều kiện. Đó là những lời tiên tri được ứng nghiệm theo trình tự, một tiểu loại của thể loại hữu điều kiện. Lời tiên tri trong Ê-xê-chi-ên 26:7–14 thuộc về thể loại thứ ba này:

7 Vì Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ đem Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, là vua của các vua, với những ngựa, những xe, những lính kỵ, cùng đạo quân, và dân đông, từ phương bắc đến nghịch cùng thành Ty-rơ. 8 Người sẽ dùng gươm giết các con gái của mầy ngoài đồng ruộng, sẽ lập đồn đắp lũy, và dấy cái thuẫn lên nghịch cùng mầy. 9 Người sẽ đặt máy phá vách thành, và dùng búa phá các tháp mầy. 10 Ngựa của người nhiều lắm đến nỗi bụi đất che mầy đi. Các vách thành mầy rúng động vì tiếng của lính kỵ, của xe chở đồ, và của xe binh, khi kẻ nghịch vào bởi các cửa mầy, như vào trong một thành đã bị thua. 11 Người sẽ giẵm vó ngựa trên các đường phố mầy; người sẽ giết dân mầy bằng gươm, và những trụ của sức mạnh mầy sẽ bị ném xuống đất. 12 Đoạn, quân nghịch mầy sẽ lấy của báu mầy, cướp hàng hóa mầy, phá đổ vách thành mầy; chúng nó sẽ phá đền đài mầy, và quăng những đá, gỗ, và bụi đất của mầy dưới nước. 13 Ta sẽ làm cho dứt tiếng hát của mầy, và người ta sẽ không còn nghe tiếng đàn cầm của mầy nữa. 14 Ta sẽ khiến mầy nên vầng đá sạch láng; mầy sẽ nên một chỗ người ta phơi lưới, và không được cất dựng lại nữa; vì ta là Đức Giê-hô-va đã phán, Chúa Giê-hô-va phán vậy.

Theo nhiều nhà phê bình các lời tiên tri trong Kinh Thánh, Ê-xê-chi-ên trong 29:18–20 đã thừa nhận rằng lời tiên tri của ông đã không được ứng nghiệm:

18 Hỡi con người, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã gán cho đạo binh mình những việc rất nặng nhọc nghịch cùng Ty-rơ… mà vua ấy chưa được tiền công nào của thành Ty-rơ, hoặc cho mình, hoặc cho đạo binh mình, để bù lại công khó mình đã đánh thành ấy… Nầy, ta sẽ phó đất Ê-díp-tô cho Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn; người sẽ bắt lấy dân chúng, cất lấy của cướp và mồi nó; đó sẽ là tiền công của đạo binh người. 20 Ta đã phó đất Ê-díp-tô cho người để thưởng sự khó nhọc người đã chịu, vì chúng nó đã làm việc cho ta. Chúa Giê-hô-va phán vậy.

Đây có thực sự là một ví dụ về sự không ứng nghiệm hay không? Điều thường bị bỏ qua chính là sự thay đổi đại từ nhân xưng từ ngôi thứ ba số ít (chỉ về Nê-bu-cát-nết-sa) sang ngôi thứ ba số nhiều, “chúng”, ám chỉ một thế lực khác ngoài quân đội của Nê-bu-cát-nết-sa. Nê-bu-cát-nết-sa quả thực đã chiếm được thành Ty-rơ trên đất liền sau một cuộc vây hãm kéo dài, chỉ để rồi dân Ty-rơ tuột khỏi tay ông khi họ đơn giản di chuyển ra một hòn đảo cách đó nửa dặm ngoài biển Địa Trung Hải. Phải đến khoảng hai trăm năm sau, Alexander Đại đế mới đến và tìm cách chiếm lấy pháo đài trên đảo của Ty-rơ. Ban đầu, ông gặp thất bại trong nỗ lực triển khai một hạm đội hải quân có thể cạnh tranh với những bậc thầy trên biển này, nên cuối cùng Alexander đã phải dùng đến biện pháp thu gom bụi, gỗ, đá và đá vụn của thành phố cũ trên đất liền, rồi đổ chúng xuống biển Địa Trung Hải để tạo thành một con đường đắp dẫn ra đảo. Do đó, vào những năm 330 TC, Alexander đã chiếm được thành phố mà Nê-bu-cát-nết-sa đã không thể chiếm được vào những năm 570 TC.

Chính theo cách thức này, lời tiên tri đã được ứng nghiệm. Tiến trình ứng nghiệm của các sự kiện đã được báo trước qua sự chuyển đổi đột ngột ở giữa lời sấm, từ việc liên tục sử dụng đại từ ngôi thứ ba số ít sang ngôi thứ ba số nhiều.

Tương tự như vậy, lời tiên tri của Ê-li về sự trừng phạt A-háp vì tội sát hại Na-bốt và chiếm đoạt tài sản của ông cũng đã được ứng nghiệm. Lời cảnh báo về thảm họa đã giáng xuống, sau sự ăn năn đột ngột của A-háp, trên chính con trai ông một thập kỷ sau, như được chép trong 2 Các Vua 9:25–26. Thi thể của Giô-ram đã bị ném xuống thửa ruộng của Na-bốt; quả thật, ngay tại chính nơi đã được tiên báo trong 1 Các Vua 21:19.

Ê-sai 17:1 cũng thường bị viện dẫn như một ví dụ về sự không ứng nghiệm: “Lời sấm về Đa-mách: ‘Nầy, Đa-mách sẽ không còn là một thành phố nữa, nhưng sẽ trở thành một đống đổ nát.’” Tuy nhiên, điều bị bỏ sót ở đây là Đa-mách, với tư cách là kinh đô, đại diện cho toàn thể quốc gia Sy-ri. Hơn nữa, nguyên văn có một lối chơi chữ dựa trên sự tương đồng về âm thanh giữa “thành phố” (m̄˒îr) và “đống đổ nát” (meːî). Nếu đọc kỹ phần còn lại của lời sấm, chúng ta sẽ thấy Đa-mách không hề đối diện với sự xóa sổ vĩnh viễn và hoàn toàn khỏi mặt đất. Một điểm nữa cần lưu ý là lời tiên tri này được đặt trong bối cảnh của thời kỳ sau rốt, tức là “trong ngày đó” (Ê-sai 17:4, 7, 9).

Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng các lời tiên tri trong Kinh Thánh đã được ứng nghiệm chính xác như những gì đã được tiên báo. Khi xem xét khối lượng khổng lồ của các nội dung mang tính tiên tri trong Kinh Thánh, chiếm tới khoảng 27 phần trăm tổng số văn bản, thì việc chúng vẫn giữ được độ chính xác tuyệt đối quả thực là một điều kỳ diệu.