Bất kỳ ai đọc các sách Phúc Âm đều thấy rõ rằng chúng có những điểm khác biệt. Đôi khi trình tự các sự kiện lại khác nhau (Giăng ghi lại sự kiện Chúa thanh tẩy Đền Thờ vào đầu chức vụ của Chúa Giê-xu, trong khi Mác lại đặt sự kiện này vào cuối). Đôi khi chúng khác biệt về mặt chi tiết (chẳng hạn như tên của các sứ đồ, hoặc các tên gọi trong gia phả ở Ma-thi-ơ 1 và Lu-ca 3). Đôi khi chúng khác nhau về phạm vi bao quát (rất nhiều sự kiện trong sách Giăng không hề được ghi lại trong bất kỳ sách nào trong ba sách còn lại). Tại sao lại có sự khác biệt này?
Xu hướng của chúng ta khi tiếp cận các sách Phúc Âm là thường xem chúng như những bản tiểu sử hiện đại. Chúng ta mong muốn chúng cung cấp mọi sự kiện về Chúa Giê-xu và đặc biệt là phải sắp xếp chính xác niên biểu cuộc đời Ngài. Trong nền văn hóa của mình, chúng ta đặc biệt chú trọng đến tính trật tự và sự chi tiết. Nếu xét theo những tiêu chuẩn này, các sách Phúc Âm quả thực tỏ ra khiếm khuyết.
Thế nhưng, các tác giả Phúc Âm không hề có chủ đích viết tiểu sử theo phong cách hiện đại. Họ thậm chí không hề biết đến thể loại này, hay mường tượng rằng hàng trăm năm sau, người ta lại quan tâm đến những vấn đề như vậy. Điều họ am hiểu chính là thể loại tiểu sử cổ đại. Mục đích của thể loại này không phải là cung cấp một niên biểu chi tiết về cuộc đời, mà là trình bày những sự kiện được chọn lọc nhằm làm nổi bật ý nghĩa cuộc đời của nhân vật và những bài học đạo đức mà độc giả cần rút ra. Chúng ta sẽ thấy rõ điều này nếu đọc, chẳng hạn, tác phẩm Tiểu sử các danh nhân (Lives) của Plutarch. Mỗi bản tiểu sử được trình bày theo cách làm nổi bật một bài học đạo đức dành cho độc giả. Thể loại văn học cổ đại này gần gũi với những gì các tác giả Phúc Âm đang thực hiện hơn là thể loại tiểu sử mà chúng ta gọi ngày nay. Cách viết của các tác giả Phúc Âm hoàn toàn dễ hiểu và phù hợp với độc giả thời bấy giờ.
Do đó, các tác giả Phúc Âm đã bắt tay vào việc trình bày những sự kiện được chọn lọc từ cuộc đời Chúa Giê-xu với một mục đích rõ ràng. Giăng bày tỏ mục đích của mình một cách rất minh bạch: “Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy. Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.” (Giăng 20:30–31). Đối với các sách Phúc Âm còn lại, Mác và Lu-ca cũng mang một mục đích tương tự là truyền giảng Phúc Âm. Riêng Ma-thi-ơ, bên cạnh mục đích đó, dường như còn bao hàm cả việc giáo huấn Hội Thánh, bởi vì ông đã sắp xếp các lời phán của Chúa Giê-xu thành năm bài giảng lớn về những chủ đề hữu ích cho Hội Thánh.
Mỗi sách Phúc Âm đều được nhắm đến một đối tượng tiếp nhận khác nhau. Nếu truyền thống Hội Thánh là chính xác, Mác đã ghi lại những lời rao giảng của Phi-e-rơ tại Rô-ma. Nghĩa là, sách này được hướng đến một độc giả phần lớn là người ngoại bang. Lu-ca đề tặng sách Phúc Âm của mình cho một nhân vật có vẻ là một quan chức ngoại bang (Lu-ca 1:1–4). Không ai biết rõ danh tính của người này (hoặc liệu Thê-ô-phi-lơ [nghĩa là “người yêu mến Đức Chúa Trời”] có phải là một danh xưng chung cho bất kỳ ai yêu mến Chúa đọc sách này hay không), tuy nhiên bộ sách hai tập Lu-ca - Công vụ dường như mang một phần mục đích biện hộ cho đức tin Cơ Đốc trước các nhà lãnh đạo ngoại bang (và có lẽ thậm chí là biện hộ cho chính Phao-lô). Đây không hề là cùng một nhóm độc giả đại chúng mà Mác đang hướng đến. Mặt khác, Ma-thi-ơ dường như nhắm đến đối tượng là những Cơ Đốc nhân gốc Do Thái hoặc chính người Do Thái. Giăng lại trò chuyện với một đối tượng hoàn toàn khác. Đương nhiên, ngay cả cùng một người giảng thuyết cũng không thể sử dụng nguyên vẹn một “bài giảng” cho nhiều đối tượng khác nhau.
Hơn nữa, các tác giả của các sách Phúc Âm là những con người hoàn toàn khác biệt. Tác giả sách Giăng mang một góc nhìn Giu-đa về Chúa Giê-xu và chỉ ghi lại một vài sự kiện diễn ra tại Ga-li-lê, trong khi các sách Phúc Âm còn lại tập trung nhiều hơn vào Ga-li-lê và các vùng đất ngoài Giu-đa. Các tác giả cũng mang những mối bận tâm khác nhau. Lu-ca đặc biệt chú trọng đến những vấn đề như cách sử dụng tiền bạc và của cải, thái độ của Chúa Giê-xu đối với phụ nữ, và sự cầu nguyện. Ma-thi-ơ, ngược lại, rất quan tâm đến mối quan hệ giữa Chúa Giê-xu và Luật pháp Do Thái. Mác lại ghi chép rất ít những lời giáo huấn của Chúa Giê-xu, nên trọng tâm của ông nghiêng nhiều hơn về những gì Chúa Giê-xu đã làm. Một số điểm nhấn này xuất phát từ mối quan tâm cá nhân của tác giả, trong khi một số khác lại bắt nguồn từ những nhu cầu cụ thể của đối tượng mà họ đang hướng đến.
Một khía cạnh quan trọng khác cần xem xét là độ dài của các sách Phúc Âm. Các sách Ma-thi-ơ, Lu-ca và Giăng có dung lượng đủ lớn đến mức nếu nội dung dài hơn nữa, chúng sẽ buộc phải được chia thành hai cuộn. Trong thực tế, các cuộn giấy chỉ có những giới hạn chiều dài nhất định, và các sách này đã đạt đến kích thước tối đa cho phép. Do đó, khi tham khảo và sử dụng các tư liệu từ sách Mác, các tác giả đôi khi buộc phải lược bớt văn tự để có không gian đưa vào những tư liệu riêng của mình mà không phải cắt bỏ chúng.
Các quy tắc viết tiểu sử thời bấy giờ không hề bắt buộc người viết phải sắp xếp mọi sự kiện theo đúng trình tự thời gian. Mác có thể tuân theo một niên biểu tương đối, nhưng các tác giả khác lại tự do nhóm các sự kiện lại với nhau theo những nguyên tắc sắp xếp khác. Lu-ca đặt phần lớn các lời giáo huấn của Chúa Giê-xu trong bối cảnh hành trình từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem (Lu-ca 9:51–19:10, thường được gọi là “bản tường trình hành trình”). Tuy nhiên, ông cũng ghi lại Bài Giảng Trên Đồng Bằng trong Lu-ca 6. Ma-thi-ơ nhóm phần lớn những lời giáo huấn tương tự này vào Bài Giảng Trên Núi trong Ma-thi-ơ 5–7, bao gồm cả những tư liệu có trong Bài Giảng Trên Đồng Bằng và những tư liệu nằm trong “bản tường trình hành trình” của Lu-ca. Hai sách Phúc Âm này sử dụng hai khung sườn khác nhau để trình bày cùng một số tư liệu. Chúng được định hình bởi những mối bận tâm riêng của từng tác giả. Lu-ca rất chú trọng đến sự di chuyển về mặt địa lý, từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem (và sau đó trong sách Công vụ, từ Giê-ru-sa-lem đến Rô-ma), trong khi Ma-thi-ơ lại quan tâm nhiều hơn đến việc Chúa Giê-xu ứng nghiệm các hình bóng tiên trưng về Môi-se. Điều thú vị là, cả Ma-thi-ơ và Lu-ca đều sử dụng tư liệu từ Mác, nhưng họ có xu hướng sử dụng Mác theo từng khối (từng đoạn lớn). Lu-ca biên tập Mác nhiều hơn Ma-thi-ơ (một phần vì Lu-ca chú trọng nhiều hơn đến văn phong Hy Lạp, trong khi văn phong của Mác khá mộc mạc về mặt này).
Giăng thì khác biệt. Ông không kể quá nhiều câu chuyện về Chúa Giê-xu. Thay vào đó, ông chọn lọc để trình bày bảy dấu lạ, bảy phép lạ cụ thể (dù ông biết rằng Chúa Giê-xu đã làm vô số phép lạ khác). Ông không ghi lại nhiều lời phán ngắn gọn của Chúa Giê-xu, mà nhóm những lời Ngài phán thành những bài diễn từ dài hơn, trong đó rất khó phân biệt đâu là lúc Chúa Giê-xu ngừng nói và đâu là lúc Giăng bắt đầu lên tiếng (trong các bản thảo gốc không có dấu ngoặc kép, dấu câu hay thậm chí là khoảng cách giữa các từ).
Điểm mấu chốt là, cũng như thể loại tiểu sử cổ đại, các sách Phúc Âm không phải là những bức ảnh chụp Chúa Giê-xu, mà là những bức chân dung. Trong một bức chân dung, điều quan trọng là làm nổi bật được nét tương đồng chính xác, nhưng người họa sĩ cũng có thể đưa vào những chi tiết khác mà họ cảm nhận được ở nhân vật: có lẽ một vài nét đặc trưng trong phẩm cách của họ sẽ được tô đậm, hoặc một hành động họ đã làm, hay một chức vụ họ đã đảm nhiệm. Có thể nhân vật đã ngồi tạo dáng trong một phòng tranh trống trải, và sau đó người họa sĩ đã vẽ thêm một khung cảnh xung quanh để làm nổi bật đặc điểm này của nhân vật. Chúng ta không hề nói rằng bức chân dung đó thiếu chính xác. Chúng ta hiểu rằng đó chính là sứ mệnh của một bức chân dung. Thực tế, theo một số khía cạnh, nó còn chính xác hơn cả một bức ảnh chụp, vì nó cho phép chúng ta nhìn thấy những điều không bao giờ có thể hiển thị trong một bức ảnh (chẳng hạn như phẩm cách), nhưng lại là một phần rất cốt lõi của con người đó.
Như vậy, trong các sách Phúc Âm, chúng ta có bốn bức chân dung về Chúa Giê-xu. Mỗi người trong bốn tác giả đều quan tâm đến những khía cạnh khác nhau về cuộc đời và bản vị Ngài. Điều này đã được biểu tượng hóa từ rất sớm trong lịch sử Hội Thánh khi các sách Phúc Âm được gắn liền với những hình ảnh khác nhau. Giăng được biểu tượng bằng hình ảnh đại bàng, trong khi Lu-ca là hình ảnh con người. Mác được biểu tượng bằng con bò, và Ma-thi-ơ bằng con sư tử (tượng trưng cho vương quyền). (Những hình ảnh này được lấy từ Khải Huyền 4:7). Do đó, chúng ta không bị giới hạn trong một góc nhìn duy nhất về Chúa Giê-xu, mà được hưởng sự phong phú từ cả bốn góc nhìn.
Đây là lý do tại sao việc đọc từng sách Phúc Âm một cách độc lập lại quan trọng hơn là kết hợp chúng thành một bản hòa hợp. Một bản hòa hợp cố gắng ghép tất cả bốn sách Phúc Âm lại với nhau để tạo thành một câu chuyện duy nhất, nhưng khi làm vậy, nó lại đánh mất đi góc nhìn riêng biệt của từng sách. Điều này giống như việc cắt ghép từng mảnh vụn từ bốn bức chân dung và cố gắng tạo ra một bức chân dung tập thể từ chúng. Bản hòa hợp thỏa mãn mong muốn sắp xếp mọi thứ theo trật tự của chúng ta, nhưng khi làm vậy, nó thường xuyên làm méo mó các sách Phúc Âm. Rốt cuộc, bản hòa hợp không phải là điều Đức Chúa Trời đã chọn để linh hứng. Đức Chúa Trời đã chọn linh hứng bốn sách Phúc Âm, chứ không phải một bản tiểu sử được ủy quyền duy nhất. Nói cách khác, dường như Đức Chúa Trời muốn có bốn bức tranh về Chúa Giê-xu chứ không phải một, bốn sứ điệp cho Hội Thánh chứ không chỉ là một sứ điệp đơn lẻ. Không phải là bốn bức chân dung này mâu thuẫn nhau. Chúng chỉ đơn giản là khác biệt. Nếu bốn họa sĩ ngồi xuống và cùng vẽ một cảnh hoàng hôn, mỗi người sẽ cho ra một bức tranh khác nhau. Mỗi người sẽ lược bỏ hoặc thêm vào những chi tiết khác nhau. Mỗi người sẽ có một góc nhìn khác nhau và có lẽ chọn nhấn mạnh một giai đoạn khác nhau của mặt trời đang lặn. Không ai trong số họ là “sai”, vì tất cả đều đang khắc họa cùng một cảnh hoàng hôn.
Do đó, khi tiếp cận các sách Phúc Âm, những sự khác biệt này mang một ý nghĩa rất quan trọng. Khi bắt gặp một điểm khác biệt, chúng ta cần tự hỏi tại sao sách Phúc Âm này lại khác. Một số khác biệt khá là không đáng kể. Chẳng hạn, Mác 6:39 đề cập rằng cỏ xanh, và không có sách Phúc Âm nào khác có chi tiết này. Họ có thể lược bỏ một chi tiết như vậy để tiết kiệm không gian. Những khác biệt khác lại mang ý nghĩa quan trọng. Khi Ma-thi-ơ ghi lại lời phán của Chúa Giê-xu về sự ly dị (Ma-thi-ơ 19:9), ông chỉ đề cập đến việc người chồng ly dị vợ, vì theo luật pháp Do Thái chỉ có đàn ông mới có quyền ly dị. Khi Mác đề cập đến vấn đề này (Mác 10:11–12), ông lại nói đến cả việc chồng ly dị vợ lẫn vợ ly dị chồng, vì tại Rô-ma cả hai giới đều có quyền ly dị. Mỗi tác giả đều phản ánh cùng một chân lý mà Chúa Giê-xu đã phán (có lẽ bằng tiếng A-ram, chứ không phải tiếng Hy Lạp) nhưng được điều chỉnh cho phù hợp với hệ thống pháp luật mà độc giả của họ đang sống dưới quyền. Mỗi tác giả đều khắc họa chính xác mối bận tâm của Chúa Giê-xu đối với tính vĩnh cửu của hôn nhân. Tương tự, Ma-thi-ơ tường thuật trình tự các sự cám dỗ sao cho kết thúc bằng việc Chúa ở trên núi, phù hợp với mối quan tâm của ông về Chúa Giê-xu như là một Môi-se mới (Ma-thi-ơ 4:1–11), còn Lu-ca lại sắp xếp theo trình tự sao cho Chúa Giê-xu kết thúc tại Giê-ru-sa-lem, thuận theo mối bận tâm về hành trình từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem của ông (Lu-ca 4:1–13). Không ai trong số họ tuyên bố rằng mình sắp xếp các tư liệu theo đúng trình tự thời gian, nên việc duy trì một trật tự như vậy không phải là một vấn đề nan giải.
Mỗi sách Phúc Âm đều đang nỗ lực truyền tải một sứ điệp đặc thù đến chúng ta. Vấn đề quan trọng đối với chúng ta với tư cách là độc giả không phải là giải mã cho được cuộc đời Chúa Giê-xu với từng sự kiện được sắp xếp trật tự, mà là lãnh hội được sứ điệp mà các sách Phúc Âm đang cố gắng truyền tải, lắng nghe tiếng gọi đức tin từ các sách, thuận phục dưới sự giáo huấn của Chúa Giê-xu, và sống trong đời sống môn đệ mà các sách đang kêu gọi chúng ta bước vào. Rốt cuộc, chúng ta không được kêu gọi để trở thành những nhà phê bình nghệ thuật, mà là để làm cho mái ấm của mình tràn ngập “ánh hào quang” tỏa ra từ bốn bức chân dung này.