Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Jêsus Christ, là Đấng Cha đã sai đến.

(Giăng 17:3)

“Khủng hoảng” thường bị hiểu nhầm là “bi kịch” hoặc “mối đe dọa.” Ý nghĩa chính xác của từ “khủng hoảng” là một thời điểm mà bạn phải đưa ra các quyết định quan trọng. Tôi gọi thời điểm đó là “một bước ngoặt trong cuộc đời.” Đối với tín hữu, một “khủng hoảng đức tin” là thời điểm mà người đó phải đưa ra quyết định hoặc tin cậy và vâng lời Chúa, hoặc đặt sự khôn ngoan và lợi ích riêng của mình lên trên ý muốn của Chúa. Nói cách khác, một khủng hoảng đức tin là một thời điểm bạn đưa ra quyết định quan trọng liên quan đến đức tin của mình.

Xét theo ý nghĩa này, khủng hoảng cũng là cơ hội để chúng ta phục vụ Chúa và thấy được Chúa hành động. Nhưng khoan xét tới các cơ hội mà khủng hoảng mang lại, thì khủng hoảng không phải là không gây căng thẳng. Trong khủng hoảng, sức mạnh và giá trị của việc bạn là một phần của một Hội Thánh địa phương đóng vai trò quan trọng. Hội Thánh địa phương là gia đình được dựng nên để hành động trong những thời điểm khủng hoảng. Sự hỗ trợ của các tín hữu trong Hội Thánh có thể tạo ra sự khác biệt to lớn cho người được Đức Chúa Trời sử dụng trong những thời điểm khủng hoảng.

KHỦNG HOẢNG NIỀM TIN#

Ngay trước nửa đêm, một Mục sư mới bước vào mục vụ nhận được cuộc gọi yêu cầu được gặp ông của hai gia đình đang gặp khủng hoảng. Một vụ ngoại tình đã bị phát hiện. Cả hai bên, cùng với vợ và chồng của họ, đã tụ họp lại để “giải quyết” vấn đề.

Đây là khủng hoảng đầu tiên mà Mục sư này gặp phải trong Hội Thánh - nơi ông mới về nhận công tác. Thực ra, đây là Chúa Nhật đầu tiên của ông ở đây. Mục sư đã đến gặp và cầu nguyện với mọi người trong vài giờ. Trong những tháng tiếp theo, Mục sư cố gắng mang lại sự hòa giải và sự tha thứ trong tình huống này, nhưng không thành công. Mối quan hệ ngoại tình vẫn tiếp diễn.

Hội Thánh ngay lập tức giúp đỡ hai gia đình đang tan vỡ. Tuy nhiên, mặc dù họ đã nỗ lực khuyên nhủ để chấm dứt mối quan hệ ngoại tình, nhưng nó vẫn không dừng lại. Hội Thánh cuối cùng phải loại cặp đôi ngoại tình khỏi danh sách hội viên, dù cả hai người đều giữ vị trí lãnh đạo trong Hội Thánh. Mục sư Quản nhiệm đã không nhượng bộ quan điểm của mình với tư cách là tôi tớ của Đức Chúa Trời, và ông trung thành duy trì các tiêu chuẩn của Chúa về hôn nhân trước Hội chúng.

Mục sư đã đặt ra tiêu chuẩn cho mục vụ của mình trước Hội Thánh bằng cách hành động một cách trung tín trong suốt thời gian khủng hoảng. Hội Thánh nhận thấy rằng họ đã có được một người có tấm lòng giống Chúa để phục vụ giữa họ. Qua hành động của mình, ông đã tôn vinh Đức Chúa Trời và giữ vững đức tin vào Đức Chúa Giê-xu Christ. Sự trung tín của Mục sư và những hành động mà Hội Thánh này thực hiện là nguồn động viên cho nhiều Hội Thánh khác đang đối mặt với những tình huống tương tự.

Có thể bạn đang đối mặt với một khủng hoảng trong cuộc sống của mình, hoặc có thể một khủng hoảng vừa qua đi. Có thể Đức Chúa Trời đang sử dụng bạn như là một công cụ để mang lại hy vọng, bình an hoặc lẽ thật trong tình huống đó. Nhưng bạn hãy cẩn thận đừng quá tập trung vào khủng hoảng mà không nhìn thấy Đức Chúa Trời ở giữa cơn khủng hoảng. Đức Chúa Trời có thể muốn tiết lộ điều gì đó về chính Ngài cho bạn giữa lúc khủng hoảng, vì vậy hãy tỉnh thức.

Một số người hiểu sai rằng Đức Chúa Trời cứu họ chỉ để họ có thể lên thiên đàng sau khi qua đời. Sự cứu rỗi là để biết và kinh nghiệm Đức Chúa Trời. Sản phẩm phụ của sự cứu rỗi là được ở bên Ngài đời đời. Một số người thích tập trung vào sản phẩm phụ thay vì mục đích chính. Đức Chúa Trời can thiệp vào cuộc sống của chúng ta để chúng ta có thể bước vào mối quan hệ đời đời với Ngài.

Khi Đức Chúa Trời sắp thực hiện một công việc vĩ đại, Ngài tìm kiếm một người và bắt đầu can thiệp vào cuộc sống của người đó. Bạn có nhớ khi Môi-se gặp Chúa trên núi Hô-rếp, Ngài đã nói: “Ta đã thấy rõ ràng sự cực khổ của dân ta… Ta ngự xuống đặng cứu dân nầy khỏi tay người Ê-díp-tô… bây giờ, hãy lại đây, đặng ta sai ngươi đi đến Pha-ra-ôn, để dắt dân ta, là dân Y-sơ-ra-ên, ra khỏi xứ Ê-díp-tô.” (Xuất Ê-díp-tô ký 3:7-8, 10).

Mục đích của Đức Chúa Trời là giải phóng dân Ngài khỏi ách nô lệ. Ngài đã chuẩn bị Môi-se cho thời điểm này. Chúng ta biết Đức Chúa Trời đã chọn Môi-se từ khi ông được sinh ra khi Ngài cứu ông khỏi bị giết theo lệnh của Pha-ra-ôn. Giờ đây, dân của Chúa đang trải qua một cuộc khủng hoảng, và Đức Chúa Trời tiết lộ kế hoạch của Ngài cho Môi-se và sai ông trở thành công cụ để Ngài hành động qua ông. Đức Chúa Trời biết Ngài có thể tin tưởng Môi-se vì Môi-se có sự trung tín và vâng lời. Mặc dù ban đầu Môi-se do dự, nhưng Đức Chúa Trời đã dùng ông để giải phóng dân Ngài. Đức Chúa Trời cũng đã sử dụng nhiều người khác trong các thời kỳ khủng hoảng. Tất cả họ đều có ảnh hưởng lâu dài trên nhiều thế hệ vì sự trung tín và vâng lời của họ đối với Chúa.

Hudson Taylor là người có đức tin lớn. Ông từng nói: “Tất cả những người khổng lồ của Đức Chúa Trời đều từng là những người yếu đuối, nhưng họ là những người đã làm những điều vĩ đại cho Chúa vì họ tin rằng Ngài ở cùng họ.” Người được Đức Chúa Trời sử dụng không bị phân tâm bởi khủng hoảng. Khủng hoảng là cơ hội để Chúa tạo ra một con đường mà qua đó Ngài có thể tác động đến một dân tộc. Đức Chúa Trời cũng có thể sử dụng khủng hoảng để phát triển nhân cách của chúng ta, làm cho chúng ta trở nên hữu dụng hơn cho Ngài. Khủng hoảng có thể là một cơ hội để Chúa giải cứu những người cần được giúp đỡ qua chúng ta. “Khủng hoảng” nghe có vẻ tiêu cực, nhưng khủng hoảng là một phần của cuộc sống.

Trong Kinh Thánh, Đức Chúa Trời luôn sai các tiên tri của Ngài đến trong những thời điểm khủng hoảng. Họ thường là tuyến phòng thủ cuối cùng của Đức Chúa Trời trước sự phán xét. Giô-na, Ê-li, Ê-sai và Giăng Báp-tít là những ví dụ về các tiên tri của Đức Chúa Trời đến trong những thời điểm khủng hoảng. Giữa khủng hoảng có một khoảnh khắc quyết định. Tôi tạm gọi đó là “khủng hoảng đức tin.” Tại khoảnh khắc đó, chúng ta phải đưa ra quyết định làm gì và nghe theo lời khuyên của ai. Liệu chúng ta sẽ làm theo bản năng của mình, hay chúng ta sẽ tìm kiếm Chúa?

Giô-suê là một người chính trực mà Đức Chúa Trời có thể tin cậy được. Giô-suê đã trải qua ách nô lệ ở Ai Cập, chứng kiến Đức Chúa Trời giải cứu dân tộc ông , và sau đó lang thang bốn mươi năm trong đồng vắng vì tội lỗi của dân tộc mình. Ông đã thấy tận mắt nhiều trận chiến - sự phấn khích khi chiến thắng và sự tàn phá khi thất bại. Sau cả cuộc đời chứng kiến Đức Chúa Trời hành động, ông đã đưa ra một tuyên bố sâu sắc mà không phải ai cũng dám tuyên bố: “Nếu anh em chẳng thích phụng sự Đức Giê-hô-va thì ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phụng sự, hoặc các thần mà tổ phụ anh em đã phụng sự bên kia sông, hoặc các thần của dân A-mô-rít trong xứ mà anh em ở. Nhưng tôi và gia đình tôi sẽ phụng sự Đức Giê-hô-va.” (Giô-suê 24:15).

ĐỨC CHÚA TRỜI SỬ DỤNG NGƯỜI CỦA NGÀI TRONG NHỮNG CUỘC KHỦNG HOẢNG#

Kinh Thánh được viết ra với mục đích là để biến đổi chúng ta. Một trong các cách để đạt được mục đích này là Kinh Thánh cung cấp cho chúng ta những tấm gương về những người trung tín và cả những người không trung tín. Chúng ta được kêu gọi noi gương của những người như Đức Chúa Giê-xu Christ, Phao-lô, các môn đồ, và các tiên tri. Trong số những người trung tín với Đức Chúa Trời, có những người đôi khi cũng thất bại và nhận sự sửa trị từ Chúa để được đưa trở lại vào mối quan hệ lành mạnh với Ngài.

Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục sử dụng những người mà Ngài đã dấy lên để phục vụ cho mục đích của Ngài. Dưới đây là một số ví dụ về những người đã được Đức Chúa Trời sử dụng trong những thời kỳ khủng hoảng trong lịch sử.

1- ĐỨC CHÚA TRỜI SỬ DỤNG MARTIN LUTHER#

Martin Luther (1483-1546) bắt đầu phục vụ Chúa với tư cách là một tu sĩ Công giáo La Mã. Ông chăm chỉ tìm kiếm ân sủng của Đức Chúa Trời thông qua sự ăn năn và tự hành xác. Luther đã trải qua sự đau buồn sâu sắc vì ông chưa sẵn sàng để Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài và đường lối của Ngài cho ông. Nhưng khi Luther đắm mình trong việc nghiên cứu Lời Chúa, điều ông khao khát đã xảy ra - Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài và đường lối của Ngài cho ông.

Vào thời của Luther, con dân Chúa không được tự do đọc Kinh Thánh bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Họ còn phải mua sự tha tội từ các lãnh đạo tôn giáo. Các lãnh đạo này đã ngăn cản con dân Chúa có mối quan hệ cá nhân và ý nghĩa với Ngài.

Qua Kinh Thánh, Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho Luther lẽ thật rằng “người công bình sẽ sống bởi đức tin” (Rô-ma 1:17). Đây là một khái niệm mang tính cách mạng. Luther nhận ra rằng ông có thể được xưng công chính chỉ bởi đức tin chứ không phải bởi việc làm của mình.

Luther đối mặt với một cuộc khủng hoảng đức tin. Liệu ông có thể tin tưởng vào sự mặc khải trong Lời của Chúa mà gạt bỏ tất cả những điều ông đã được dạy trong nhiều năm? Trong lòng, ông biết rằng mình phải vâng lời Đức Chúa Trời.

Vào ngày 31 tháng 10 năm 1517, Martin Luther đã đóng 95 luận đề của mình lên cửa nhà thờ ở Wittenberg. Như một tia sáng xuyên thủng bóng tối của sự ngu dốt và tôn giáo vô hồn, phơi bày lẽ thật giải phóng của Lời Chúa, và phong trào Cải chính Tin Lành bắt đầu.

Mọi người không còn phải trả tiền cho bất kỳ người nào để được tha tội hoặc nhận ân điển; họ có thể trực tiếp đến với Đức Chúa Trời! Họ có thể kinh nghiệm mối quan hệ cá nhân với Chúa như Ngài đã định.

2- ĐỨC CHÚA TRỜI SỬ DỤNG JOHN WESLEY#

Lãnh đạo nổi bật nhất của Phong trào Tin Lành là con trai của một linh mục trong Giáo hội Anh giáo và bản thân ông cũng là một linh mục.

Nhưng Đức Chúa Trời có kế hoạch khác cho John Wesley (1703-1791). Trong thời của Wesley, các tín hữu đã nhận được sự cứu rỗi qua đức tin, nhưng họ không được dạy dỗ và môn đệ hóa từ Lời Chúa. Trong chuyến đi đến Georgia để truyền bá Phúc Âm, Đức Chúa Trời đã đưa John gặp Augustus Spangenberg, một tín hữu Moravian - người đã thách thức John biết Đức Chúa Giê-xu Christ một cách cá nhân. Ba năm sau, Wesley đã kinh nghiệm sự cứu rỗi mà ông hằng tìm kiếm, và mối quan hệ của ông với Đức Chúa Giê-xu Christ trở nên vượt trội.

Wesley sau đó nhận ra rằng các tín hữu được cứu là chưa đủ, họ cần được môn đệ hóa. Đức Chúa Trời đã dẫn dắt ông phát triển một “phương pháp” để những tân tín hữu có thể được dạy cách sống đời sống Cơ Đốc. Ông nhóm các tín hữu lại để có sự thông công thân mật và xây dựng đạo đức, thuộc linh dưới sự dẫn dắt của một lãnh đạo Cơ Đốc trưởng thành.

Khi Wesley qua đời vào năm 1791, ước tính có khoảng 71.668 tín hữu Methodist tại Anh Quốc. Sau khi ông qua đời, một hệ phái chính thức được thành lập với tên gọi là Giáo hội Methodist Wesleyan. Trong khi những người khác đang rao giảng Phúc Âm cho những người hư mất, thì Đức Chúa Trời đã sử dụng Wesley để hoàn thành phần còn lại của Mạng Lệnh: “dạy họ vâng giữ mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi” (Ma-thi-ơ 28:20).

3- ĐỨC CHÚA TRỜI SỬ DỤNG HUDSON TAYLOR#

Năm 1865, J. Hudson Taylor (1832-1905) nhận ra rằng chưa có ai tiếp cận những người chưa được cứu ở Trung Quốc. Đức Chúa Trời đã dẫn dắt ông tổ chức Hội Truyền giáo Nội địa Trung Hoa để đến những vùng đất mà các tổ chức Cơ Đốc khác chưa chạm tới. Đến năm 1914, có hơn một nghìn nhà truyền giáo trong danh sách của hội. Taylor không bao giờ trực tiếp kêu gọi quyên góp tiền bạc mà dựa vào lời cầu nguyện để tìm kiếm nhân sự, tiền để trả lương giáo sĩ, và vận hành tổ chức. Khi được một người giàu có đề nghị tài trợ cho tổ chức của Taylor, ông đã từ chối vì ông cảm thấy số tiền này sẽ khiến tổ chức tồn tại lâu hơn so với ý định của Chúa. Đức Chúa Trời đã ban cho Taylor tấm lòng cưu mang những người hư mất và mong muốn đem danh Đức Chúa Giê-xu Christ “đến tận cùng trái đất.”

4- ĐỨC CHÚA TRỜI SỬ DỤNG JONATHAN EDWARDS#

Vào năm 1734 và 1735, cuộc Đại Thức Tỉnh đã bùng nổ tại Massachusetts, phần lớn nhờ vào các bài giảng của Jonathan Edwards (1703-58). Là con trai của một mục sư, Edwards được xem là một trong những triết gia vĩ đại nhất kể từ thời của sứ đồ Phao-lô và Augustine. Edwards được nhận xét là có một “trí tuệ sắc bén và sâu sắc” và tính cách bí ẩn.

Ở tuổi mười sáu, Edwards tốt nghiệp Đại học Yale với kết quả cao nhất. Ông có một danh sách bảy mươi quyết tâm cá nhân mà ông cẩn thận xem xét chúng hàng tuần. Một trong số đó ghi rằng: “Quyết tâm, trung tín và kiên định với đức tin của mình như Châm Ngôn 20:6, “Nhưng ai có thể tìm được một người trung tín?” – Đây là những đức tính cần được hình thành trọn vẹn trong tôi”. Đức Chúa Trời đã sử dụng cả trí tuệ và sự tận tâm của Edwards để ảnh hưởng những người xung quanh ông.

Vào thời Edwards, Hội Thánh ở New England đã trở nên tự mãn và sao lãng vai trò của mình như là muối và ánh sáng trong một thế giới đầy bóng tối. Đức Chúa Trời cần một người mà qua đó Ngài có thể nhóm lại ngọn lửa của Thánh Linh. Bằng việc lên án mạnh mẽ tội lỗi, Edwards đã chứng kiến một làn sóng thức tỉnh lan rộng khắp các Hội Thánh. Các bài giảng của ông có tiết tấu chậm và bố cục chặt chẽ. Một trong số chúng là bài giảng nổi tiếng với tiêu đề “Tội Nhân Trong Tay Một Đức Chúa Trời Thịnh Nộ.” Đức Chúa Trời đã dùng Edwards để đưa hàng ngàn người đến với đức tin cứu rỗi trong Đấng Christ, và sự phục hưng đã nổ ra khắp các thuộc địa phía Đông.

5- ĐỨC CHÚA TRỜI SỬ DỤNG DAVID BRAINERD#

Jonathan Edwards mô tả David Brainerd (1718-47) là một người dễ rơi vào u sầu và trầm cảm, là người “tỷ lệ nghịch sự mệt mỏi với sức mạnh của mình.” Brainerd đã cố gắng để biết Chúa một cách sâu sắc nhất có thể. Ông dành nhiều giờ để cầu nguyện và suy ngẫm.

Đức Chúa Trời đã gọi Brainerd làm người phát ngôn của Ngài cho người da đỏ bản địa ở Pennsylvania. Những tháng ngày rong ruổi trên lưng ngựa trong điều kiện mùa đông khắc nghiệt, cùng với việc lao động vất vả trong thời gian dài đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của Brainerd. Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục trung tín phục vụ Chúa với cộng đồng người da đỏ.

Ông qua đời ở tuổi ba mươi dưới sự chăm sóc của Jonathan Edwards - người về sau đã xuất bản nhật ký của Brainerd. Quyển nhật ký cho thấy tấm gương của một người trung tín và hết lòng hầu việc Chúa.

6- ĐỨC CHÚA TRỜI SỬ DỤNG WILLIAM CAREY#

Nỗ lực của William Carey đã đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập hội truyền giáo đầu tiên tại Anh vào tháng 10 năm 1792. Carey (1761-1834) là một thợ đóng giày khiêm tốn. Ông đã cảm thấy một sự cấp bách cần được nghe sứ điệp cứu rỗi của những linh hồn lạc lối trên toàn thế giới. Tại một cuộc họp của các Hội Thánh Baptist, Carey đã hỏi tại sao Hội Thánh không cử các nhà truyền giáo đến những vùng đất xa xôi để truyền giảng cho những linh hồn chưa từng nghe Tin Lành. Người điều hành cuộc họp trả lời Carey rằng: “Chàng trai trẻ, khi Chúa muốn tiếp cận những người ngoại đạo, Ngài sẽ làm điều đó mà không cần sự giúp đỡ của cậu hay của tôi!” Không bị nản lòng và được Đức Thánh Linh thúc đẩy, Carey đã thu dọn hành lý, lên tàu, ra khơi để đến những vùng đất mới – nơi ông học các ngôn ngữ mới và chia sẻ Tin Lành. Sự vâng lời của ông với Đức Chúa Trời cách đây ba thế kỷ đã giúp khởi xướng các hoạt động truyền giáo mang Phúc Âm lan rộng khắp thế giới ngày nay. Ông được nhớ đến như là cha đẻ của Công cuộc Truyền giáo Hiện đại.

Những người tôi vừa kể trên không phải là các nhân vật trong Kinh Thánh. Họ không đi theo Đấng Christ qua các vùng đất xứ Ga-li-lê. Nhưng họ phục vụ cùng một Đức Chúa Trời mà chúng ta phục vụ và học cùng một Kinh Thánh mà chúng ta học. Tuy nhiên, mỗi người trong số họ đều có các phẩm chất vĩ đại và đã được Đức Chúa Trời sử dụng một cách mạnh mẽ. Không ai trong số họ là hoàn hảo. Mỗi người đều có những khuyết điểm riêng. Nhưng mỗi người đều trung tín với Đức Chúa Trời và vâng phục sự dẫn dắt của Ngài. Thành công của họ không nằm ở những gì họ đạt được, mà nằm ở sự vâng lời của họ.

Đức Chúa Trời không ngừng sử dụng những con người trung tín. Ngài tiếp tục viết nên những chương mới về những người có đức tin được Ngài sử dụng một cách mạnh mẽ. Tên của bạn và tôi có thể được liệt kê cùng với những anh hùng đức tin trong Hê-bơ-rơ 11, nếu chúng ta trung tín với nhiệm vụ cùng làm việc với Chúa. Hầu hết chúng ta sẽ nói rằng, “nếu chúng ta trung tín với nhiệm vụ của mình,” nhưng nhiệm vụ cứu chuộc thế giới hư mất là của Chúa. Chúng ta có một “nhiệm vụ cùng làm việc.” “Cùng” có nghĩa là “cùng với, bên cạnh, chung, hoặc thay mặt cho người khác.” Chúng ta cùng làm việc với Chúa để hành động trong những thời điểm khủng hoảng. Hãy cầu nguyện và cam kết với Chúa rằng bạn sẽ làm việc cùng với Đấng Christ và Thánh Linh của Ngài như là đại sứ của Đức Chúa Trời cho những người khác.

CHÚNG TA ĐANG SỐNG TRONG THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG#

Cơ Đốc nhân trong mỗi thế hệ có trách nhiệm tiếp cận những người đồng thế hệ với mình. Chúng ta không thể ảnh hưởng các thế hệ trước mình, nhưng chúng ta có thể ảnh hưởng những người đồng thế hệ với mình, và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các thế hệ sau mình qua những lời cầu nguyện, qua việc làm gương, qua con cái, qua các nguồn lực, và nhiều điều khác. Nhưng tất cả phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của chúng ta để phục vụ Chúa ngay hôm nay.

Chúng ta đã nhìn những người đi trước đã tạo ra sự khác biệt trong thế hệ của họ. Chúng ta cảm nhận ảnh hưởng của họ đối với chúng ta và nguồn cảm hứng mà họ mang lại khi chúng ta thấy những gì Chúa đã làm qua họ.

Hê-bơ-rơ 12:1 nối tiếp chương 11, là chương mà nhiều người gọi là “Sảnh Đức Tin.” Hê-bơ-rơ 11 liệt kê hơn một chục cá nhân được biết đến vì đức tin của họ. Những người này đã thể hiện đức tin phi thường giữa những cuộc xung đột, sự chế giễu, chiến tranh, sự tra tấn và cả cái chết. Nhiều người trong số họ đã được Đức Chúa Trời sử dụng trong những thời kỳ khủng hoảng. Kinh Thánh chép: “Hết thảy những người đó đều chết trong đức tin, chưa nhận lãnh những điều hứa cho mình” (Hê-bơ-rơ 11:13). Họ đã bị bắt bớ nhưng vững tin rằng họ chỉ là những người bộ hành trên đất này, và họ khao khát một quê hương tốt đẹp hơn, tức một thành trên trời mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho họ (Hê-bơ-rơ 11:16). Họ là những chứng nhân mạnh mẽ cho chúng ta, và chúng ta kế tục họ để trở thành những người trung tín được Đức Chúa Trời sử dụng để tiếp cận thế hệ của mình.

“Thế thì, vì chúng ta được nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn, chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta” (Hê-bơ-rơ 12:1).

Tôi chắc chắn là ngày nay chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng. Một thống kê thường được trích dẫn cho biết hơn 50% các cuộc hôn nhân ở Bắc Mỹ kết thúc bằng ly hôn. Con số này ngụ ý rằng có nhiều trẻ em sinh ra trong các gia đình tan vỡ. Các nhà tù chật kín tù nhân, sự bóc lột tình dục trẻ em, tham nhũng, bạo lực gia đình, tình trạng phân biệt chủng tộc, lối sống vô đạo đức, quản lý kém cỏi trong kinh doanh, nhà thờ đóng cửa, bạo lực đường phố, văn hóa ma túy - tất cả đều cho thấy rằng thế giới đang trong khủng hoảng. Đó là còn chưa kể đến các cuộc nội chiến, thanh trừng sắc tộc, chiến tranh sinh học, nạn đói và bệnh tật đang hoành hành trên phạm vi quốc tế.

Mọi nền văn hóa và quốc gia trong suốt chiều dài lịch sử đều gặp rắc rối. Nhưng tôi tin rằng hiện nay chúng ta đang ở giữa mức độ khủng hoảng chưa từng có. Đức Chúa Trời đã đặt chúng ta vào một thời điểm độc nhất trong lịch sử để tác động đến một thế giới đang vô cùng cần một Đấng Cứu Rỗi. Chúng ta hãy cùng xem xét một số cơ hội này.

KHỦNG HOẢNG TRONG GIA ĐÌNH#

Ngày nay, không ở đâu thấy rõ khủng hoảng hơn là ở trong gia đình. Nếu hôm nay Đức Chúa Trời chữa lành cho đất nước của chúng ta, thì Ngài sẽ bắt đầu từ trong gia đình. Để giữ gia đình được trọn vẹn, khỏe mạnh và tập trung vào Chúa, người cha – người mẹ được Đức Chúa Trời sử dụng phải có nhân cách chính trực.

Tôi quen biết một gia đình nọ có một người con trai nổi loạn chống lại cha mẹ, mặc dù cha mẹ cậu đều là những người tin và kính sợ Chúa. Cậu con trai thi trượt lớp mười, và đó là sự khởi đầu của nhiều năm tháng đau đớn, đổ vỡ, và sầu khổ của cha mẹ.

Khi người cha và người mẹ này tìm kiếm sự hướng dẫn và chỉ dẫn từ Đức Chúa Trời, họ cam kết sẽ dùng sự nhẫn nại mà đối xử với con trai mình. Một số người bạn Cơ Đốc có thiện ý đã khuyên họ ra tối hậu thư với đứa con trai rằng, “Hoặc cậu vâng lời cha mẹ, hoặc cậu phải ra khỏi nhà.” Những người bạn này cho rằng dù tối hậu thư nghiêm khắc nhưng đó cũng là một cách để bày tỏ tình yêu với đứa con nổi loạn này. Tuy nhiên, người cha và người mẹ này tin Chúa nói với họ rằng: “Ta cũng có những quy tắc trong nhà Ta. Bao nhiêu lần các con đã phá vỡ quy tắc của Ta và phạm tội với Ta? Ta chưa bao giờ đuổi các ngươi ra khỏi nhà Ta cả. Mỗi lần các con phạm tội, Ta đã tha thứ cho các con trước khi các con cầu xin Ta.” Chúa bảo họ phải yêu thương con trai mình giống như cách Ngài yêu thương họ.

Người cha thường đến với Chúa và nói rằng ông không đáng phải chịu nỗi đau và tổn thương lớn như vậy; và Chúa đã nhắc ông nhớ đến cách Ngài đã tha thứ cho tội lỗi của chính ông. Là cha mẹ, họ không thể để thế gian chỉ họ cách nuôi dạy con cái. Họ tiếp tục tìm kiếm Chúa, cầu nguyện cho con trai, và đối xử với con theo cách họ nghĩ Đấng Christ sẽ làm như vậy.

Người cha đã học cách yêu thương con trai mình giống như cách Đức Chúa Trời yêu thương ông. Cuối cùng, con trai ông cũng tốt nghiệp trung học. Cậu tiếp tục theo học tại một trường cao đẳng cộng đồng, rồi vào đại học. Giờ đây, cậu đã hoàn thành chương trình tại trường thần học, kết hôn và bắt đầu lập gia đình riêng.

Cậu con trai này đã thấy người cha yêu thương cậu như cách Chúa yêu thương. Khi Đức Chúa Trời ban cho bạn con cái, Ngài đã nghĩ đến chúng trong cõi đời đời. Chúa muốn hành động qua bạn để ảnh hưởng đến con cái của bạn. Những gì bạn đã dạy dỗ, giáo dục, và làm gương cho con cái sẽ ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau.

Lời hứa trong Ma-la-chi 4:6 rằng Chúa sẽ làm cho lòng của cha và con quay về với nhau. Trước khi chúng ta bắt đầu áp dụng câu Kinh Thánh này vào các mối quan hệ gia đình, chúng ta phải tự hỏi bản thân, “Lòng tôi đã quay về với Cha Thiên Thượng chưa?” Câu Kinh Thánh này là một thước đo để kiểm tra tấm lòng của chúng ta và cách chúng ta đối xử với cha mẹ và con cái của mình.

Không có người cha hoàn hảo trong Kinh Thánh. Thậm chí Nô-ê, là một trong những người cha được con cái kính trọng, vì tất cả các con của ông đều vâng theo ông trong khi mọi người đều nghĩ ông bị điên (Sáng Thế Ký 7:13); nhưng Nô-ê lại say rượu (Sáng Thế Ký 9:21). Dầu vậy, một người cha được Đức Chúa Trời sử dụng là người sẽ cố gắng truyền lại đức tin của mình cho hậu tự, chứ không phải những khuyết điểm.

KHỦNG HOẢNG TRONG CỘNG ĐỒNG#

Thế giới của chúng ta đang suy đồi về mặt đạo đức. Trong nhiều khía cạnh, thời đại của chúng ta không khác mấy so với thời của Nô-ê. Đức Chúa Trời đã thấy khuynh hướng của con người là hướng về điều ác, luôn nghĩ đến những gì họ muốn và lợi ích của bản thân. “Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn” (Sáng thế ký 6:5).

Trái ngược với những gì nhiều người nói, Kinh Thánh cho biết con người sinh ra là ác và không có khuynh hướng hành động vì lợi ích tốt nhất của người khác. Nếu không có Đấng Christ, con người sẽ che giấu sự thật và đánh đổi nó lấy sự dối trá (Rô-ma 1:25). Đây là thế giới mà chúng ta đang sống. Đây là đấu trường nơi chúng ta làm việc và phục vụ Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời đã đặt Thánh Linh của Ngài vào đời sống chúng ta để hướng dẫn và dạy dỗ chúng ta. Ngài làm điều này để ban cho chúng ta quyền năng và sự khôn ngoan để phục vụ Ngài mỗi ngày. Đức Chúa Trời cũng làm điều đó để bảo vệ chúng ta khỏi những cuộc tấn công của kẻ thù. Chúng ta được kêu gọi để đại diện Đức Chúa Trời như là những sứ giả của Ngài giữa một dân tộc không còn giữ vững những chân lý tuyệt đối.

Robert từng là một thanh niên nghiện ma túy và biết rõ các mặt tối của cuộc sống. Nhưng Đức Chúa Trời đã can thiệp vào cuộc đời anh và ban cho anh hy vọng cùng mục đích sống. Robert cảm thấy chắc chắn rằng mình không thể thay đổi thế giới, nhưng anh tin rằng mình có thể tạo ra sự khác biệt.

Robert tranh cử vào một vị trí trong hội đồng nhà trường ở địa phương và được bầu làm chủ tịch. Anh không biết tất cả những gì Đức Chúa Trời đang định làm, nhưng anh đã thấy một số vấn đề đạo đức nghiêm trọng bắt đầu xuất hiện. Các nhà hoạt động vì quyền đồng tính tràn vào các cuộc họp của hội đồng trường. Họ sử dụng các phương tiện truyền thông địa phương để gây áp lực buộc nhà trường phải đưa chương trình giáo dục đồng tính vào dạy, nhằm chống lại sự kỳ thị đồng tính.

Các nhóm lợi ích khác cố gắng ép hội đồng trường đưa những cuốn sách thiếu đạo đức vào các lớp học. Các tổ chức khác đề xuất lắp đặt máy bán bao cao su trong nhà vệ sinh trường học. Robert tin rằng thành phố của anh cần một người có đức tin mạnh mẽ để đứng lên bảo vệ lẽ thật thay vì các lợi ích chính trị.

Khi Robert củng cố được vị thế của mình và đối đầu các nhóm lợi ích, anh đã bị vu khống và chỉ trích công khai. Robert bị vu oan, bị đổ lỗi cho những tệ nạn xã hội, và liên tục bị quấy rối trong các cuộc họp.

Robert được Đức Chúa Trời kêu gọi trong thời kỳ khủng hoảng đạo đức tại thành phố của anh, nơi mà nền giáo dục đạo đức cho trẻ em đang bị đe dọa. Đức Chúa Trời đã chuẩn bị Robert cho thời điểm này, và anh đã trung tín đứng vững giữa cơn khủng hoảng. Nhân cách của anh tỏa sáng giữa sự chống đối dữ dội.

Trong bóng tối, người ta chỉ có thể di chuyển một cách quờ quạng; chỉ khi có ánh sáng chiếu rọi thì chúng ta mới nhìn thấy tỏ tường mọi vật để đưa ra các hành động phù hợp. Ánh sáng cũng có thể phơi bày những nguy hiểm và khó khăn ra trước mắt chúng ta. Làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta không được lùi bước trước những thử thách hoặc đau khổ. Đức Chúa Trời không hứa rằng mọi người cuối cùng sẽ quay lại làm điều đúng nếu chúng ta kiên trì. Kinh Thánh cho biết rằng nếu chúng ta kiên trì, chúng ta làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, và sẽ nhận được điều Ngài đã hứa (Hê-bơ-rơ 10:32-33, 36, 39, 40).

KHỦNG HOẢNG TẠI NƠI LÀM VIỆC#

Đức Chúa Trời đã đặt người của Ngài vào những vị trí chiến lược, là nơi Ngài muốn thông qua họ tạo ra sự khác biệt. Mỗi tín hữu ở tại nơi làm việc của mình là một nguồn năng lượng để Đức Chúa Trời thực hiện ý muốn của Ngài.

Bạn sẽ không bao giờ biết tại sao bạn lại ở vị trí hiện tại nếu bạn không chú tâm theo dõi các hoạt động của Đức Chúa Trời. Bạn phải luôn nhạy cảm với Đức Thánh Linh. Đức Chúa Trời có thể kêu gọi bạn trong tích tắc để trở thành công cụ trong tay Ngài để Ngài sử dụng. Người bình thường trở nên phi thường trong những thời điểm như vậy.

Kim nhận ra mình là giáo viên Cơ Đốc duy nhất trong đội ngũ nhân viên của trường tiểu học nơi anh làm việc. Trong ngôi trường đó, sự coi thường Cơ Đốc giáo diễn ra một cách rất tinh vi. Chẳng hạn, các lãnh đạo ngầm ngăn cản bất kỳ điều gì Kim định nói về đức tin Cơ Đốc bằng cách nói rằng “họ không muốn xúc phạm các tôn giáo khác, hoặc “chúng ta cần tôn trọng mọi quan điểm tôn giáo.” Kim cảm thấy mình giống như một tia ánh sáng nhỏ bé giữa bóng tối bao la. Làm thế nào anh có thể tổ chức chương trình âm nhạc nhân dịp Giáng sinh tuân thủ yêu cầu của nhà trường là phải được diễn ra trong khuôn khổ đã quy định mà không làm tổn hại đến đức tin và sự cam kết của anh với Đức Chúa Trời. Kim đã chọn chủ đề “Lễ hội Ánh sáng” để chào mừng ánh sáng và chào mừng các nền văn hóa khác nhau.

Tuy nhiên, Kim sắp xếp để bài hát chính của chương trình nói về ngôi sao đã dẫn các nhà thông thái đến với Đấng Cứu Thế. Thông điệp Cơ Đốc rõ ràng của bài hát đã gieo ra một số hạt giống. Một đồng nghiệp đã nhận thấy điều gì đó khác biệt ở Kim. Khi đồng nghiệp này đến nói chuyện với Kim, Kim đã có thể chia sẻ đức tin của mình cho người đó. Kim đã trung thành với Đức Chúa Trời của mình và can đảm chia sẻ đức tin trong một môi trường mà đức tin Cơ Đốc chỉ được coi là một trong số nhiều quan điểm. Kim không biết rằng người đồng nghiệp mà anh đã chia sẻ đức tin đêm hôm đó, sáu tháng sau sẽ qua đời trong một tai nạn xe hơi. Đức Chúa Trời sẽ sử dụng người của Ngài để tác động đến cuộc đời của những đồng nghiệp nơi Ngài đã đặt để họ. “Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Jêsus Christ, là Đấng Cha đã sai đến.” (Giăng 17:3).

KHỦNG HOẢNG TRONG QUỐC GIA CỦA CHÚNG TA#

Hầu hết mọi người không nhận ra mối liên hệ giữa tình hình đất nước và tình trạng thuộc linh của dân Đức Chúa Trời. Cựu Ước liên tục cho thấy cách vùng đất và các quốc gia xung quanh Y-sơ-ra-ên được ban phước khi dân của Đức Chúa Trời có mối quan hệ đúng đắn với Ngài (2 Sử ký 7:14).

Một trong những phương thuốc tốt nhất trong thời kỳ quốc gia gặp khủng hoảng là sự phục hưng thuộc linh. Đức Chúa Trời đang tìm kiếm những người sẽ trở thành những đầy tớ khiêm nhường, ngay lành và trung tín, là người có đời sống đầy dẫy Đức Thánh Linh mà Ngài có thể sử dụng trong thời kỳ khủng hoảng.

Một cuộc khủng hoảng đối với người này có thể chỉ là một trở ngại nhỏ hoặc thách thức cá nhân đối với người khác. Không có Đức Chúa Trời, chúng ta luôn ở trong tình trạng khủng hoảng. Đồng hành với Đức Chúa Trời, chúng ta có những cơ hội để phục vụ người khác và học biết nhiều hơn về bản tính của Ngài. Chìa khóa nằm trong 2 Sử ký 7:14 - những người khiêm nhường tìm kiếm Đức Chúa Trời qua sự cầu nguyện và ăn năn sẽ là những người được Đức Chúa Trời sử dụng để “chữa lành đất nước” khỏi nỗi đau và sự tuyệt vọng. Sự phục hưng là dành cho những ai đã từng kinh nghiệm sự sống nhưng giờ đây đang đánh mất sự sống hoặc đang héo mòn. Sự phục hưng là dành cho con dân của Đức Chúa Trời, không phải cho người chưa tin. Đối với những người chưa tin, điều họ cần trước nhất là được sinh lại bởi quyền năng của Đức Thánh Linh. Họ không thể được đổi mới hoặc phục hưng cho đến khi họ được chuyển từ sự chết thuộc linh sang sự sống thuộc linh lần đầu tiên.

HỘI THÁNH CHO THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG#

Là một Cơ đốc nhân, bạn là một bộ phận của thân thể, tức Hội Thánh, được kết nối và phụ thuộc lẫn nhau với các tín hữu khác qua Đức Thánh Linh. Khi một bộ phận đau đớn, cả thân thể đau đớn. Nếu một bộ phận vui mừng, thì cả thân thể vui mừng (1 Cô-rinh-tô 12:26). Vì vậy, không phải là “cuộc khủng hoảng của gia đình tôi” hay “cuộc khủng hoảng của cá nhân tôi”, mà là khủng hoảng chung. Một cuộc khủng hoảng nên được nhìn trong bối cảnh của gia đình Hội Thánh.

Đây là ý nghĩa của việc trở thành thân thể của Đấng Christ. Mỗi thành viên, với những ân tứ và khả năng khác nhau, được đặt một cách có chiến lược trong thân thể để phục vụ người khác trong thời kỳ khủng hoảng, cũng như trong thời kỳ vui mừng. Nếu bạn ngăn cản Hội Thánh chia sẻ cuộc khủng hoảng của mình, bạn đã tước đi của Hội Thánh một trong những điều mà Hội Thánh được thiết kế để làm.

Tôi quen biết một tín hữu nọ có “sở thích” thử lòng Hội Thánh để xem họ quan tâm anh ta đến mức nào. Một lần nọ, anh ta vào bệnh viện mà không nói với ai và chờ đợi mọi người đến thăm. Không ai đến cả. Anh ta trở nên phẫn nộ và tức giận với Hội Thánh vì đã không quan tâm đến mình và cuối cùng rời khỏi Hội Thánh. Bạn có thể cho phép Hội Thánh giúp đỡ mình trong thời kỳ khủng hoảng, hoặc bạn có thể ngăn cản Hội Thánh vì lòng kiêu ngạo hoặc sự cứng đầu.

Hội Thánh là “trụ sở truyền giáo toàn cầu” mà Đức Chúa Trời sử dụng cho mục đích của Ngài. Hội Thánh là cơ quan được Đức Chúa Trời sử dụng để đáp ứng nhu cầu của con người trong thời kỳ khủng hoảng. Hội Thánh phải luôn thực hiện sứ mệnh cùng với Đấng Christ để cứu chuộc một thế giới lạc mất. Đức Chúa Giê-xu phán: “Ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó” (Ma-thi-ơ 16:18). “Còn Ta, khi Ta đã được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta.” (Giăng 12:32). Đấng Christ mong muốn xây dựng Hội Thánh của Ngài và kéo mọi người đến với Ngài. Đó là vai trò của Đấng Christ. “Đấng kêu gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc ấy” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:24). Vai trò của chúng ta với tư cách là Hội Thánh là trở thành thân thể của Đấng Christ mà Ngài sẽ sử dụng để hoàn thành công việc của Ngài thông qua việc phục vụ người khác.

Một giáo viên Trường Chúa Nhật nọ biết được rằng một thành viên trong lớp mình phụ trách đang gặp khủng hoảng. Vợ của thành viên này được lên lịch phẫu thuật hội chứng ống cổ tay và sẽ không thể sử dụng tay trong vài tuần. Cặp vợ chồng có hai con, và công việc của anh ấy đòi hỏi phải đi công tác dài ngày. Vì vậy, giáo viên hỏi người chồng rằng liệu bản thân giáo viên hoặc các bạn trong lớp có thể làm gì để giúp đỡ không. Mặc dù cảm kích với lời đề nghị, nhưng người chồng nghĩ rằng giáo viên Trường Chúa Nhật và các bạn trong lớp không thể giúp đỡ được gì nhiều. Giáo viên sau đó liên lạc với các thành viên trong lớp để xem họ muốn giúp đỡ như thế nào. Chẳng mấy chốc, các bữa ăn tối trong hai tuần đã được chuẩn bị sẵn. Cả lớp rất vui lòng giúp đỡ gia đình này trong cơn khủng hoảng. Người chồng và vợ của anh ấy không chỉ ngạc nhiên trước sự hào phóng của cả lớp mà còn cảm động vì mọi người đã dành thời gian để quan tâm đến họ và gia đình của họ.

Tại một Hội Thánh nọ, có một cặp bạn trẻ đang sống chung với nhau bắt đầu tham dự các buổi nhóm lại với Hội Thánh. Chàng trai là một người nghiện rượu, và mối quan hệ của cặp đôi đang trong tình trạng nguy hiểm. Hội Thánh bắt đầu cầu nguyện cho họ, yêu thương họ, và chứng kiến cách Đức Chúa Trời hành động khi Ngài sai những người có chuyên môn đến để giúp chàng trai đối phó với cơn nghiện của mình. Chẳng bao lâu sau, cặp đôi hỏi cách để cầu nguyện tiếp nhận Đức Chúa Giê-xu! Sau đó, họ được Báp-têm, gia nhập Hội Thánh, và mong muốn kết hôn với nhau. Mặc dù hai bạn trẻ này không có gia đình, không có tiền, và chỉ quen biết một vài người trong Hội Thánh, Mục sư Quản nhiệm đã bảo họ đừng lo lắng và hãy cứ quyết định ngày họ muốn làm lễ cưới.

Mục sư đã chia sẻ nhu cầu của đôi trẻ với Hội chúng, là những người hiểu tầm quan trọng của việc trở thành một phần trong thân thể của Đấng Christ. Đám cưới của cặp đôi diễn ra vào cuối buổi thờ phượng sáng Chúa Nhật. Khi người đánh đàn bắt đầu bản nhạc đám cưới, chú rể bước vào với một tín hữu của Hội Thánh đi bên cạnh. Tiếp theo là phù dâu, là một tín hữu khác của Hội Thánh, rồi đến cô dâu. Một chấp sự lớn tuổi dẫn cô dâu đến lối đi. Sau đám cưới, Hội Thánh tổ chức một bữa tiệc trong hội trường được trang trí bởi các tín hữu. Hơn 150 khách tham dự, tất cả đều là thành viên của gia đình mới của họ.

Tôi không thể kể hết tầm quan trọng của Hội Thánh đối với gia đình chúng tôi. Khi vợ tôi suýt qua đời vài tháng sau khi sinh đứa con thứ năm, Hội Thánh đã ở đó để giúp đỡ chúng tôi.

Khi tôi phải thường xuyên vắng nhà vào các chiều Chúa Nhật để giúp thành lập một Hội Thánh Truyền Giáo cách nhà chín mươi dặm, gia đình Hội Thánh địa phương đã chăm sóc các con của chúng tôi. Cha tôi qua đời ngay sau khi đứa con trai đầu lòng của tôi chào đời, và mẹ tôi qua đời sau khi đứa con trai thứ ba của tôi ra đời, vì vậy các con tôi không bao giờ biết ông bà nội của chúng. Nhưng chúng biết những người lớn tuổi trong Hội Thánh của chúng tôi, đặc biệt là ba bà góa thường cho các con tôi kẹo hoặc những món quà nhỏ và thường hỏi thăm chúng. Quan trọng hơn, họ thường xuyên cầu nguyện cho các con tôi.

Không có gì quý giá hơn đối với một Mục sư là việc gia đình Hội Thánh giúp đỡ các con của mình trong thời kỳ khủng hoảng. Thật buồn khi một Mục sư cảm thấy phải bảo vệ gia đình mình khỏi Hội Thánh. Tôi thường nhận ra rằng chính Hội Thánh là người đã bảo vệ gia đình tôi.

Nếu bạn quan tâm đến việc trở thành một Cơ Đốc nhân trưởng thành và hiểu được ý nghĩa của việc bạn là một phần trong gia đình của Đức Chúa Trời, hãy giúp Hội Thánh của bạn biết cách để họ có thể giúp đỡ bạn trong thời kỳ khủng hoảng. Nếu bạn nhận thấy Hội Thánh của bạn không giống với Hội Thánh mà tôi đã mô tả, xin đừng vội rời đi. Thay vào đó, bạn hãy giúp Hội Thánh của bạn trở thành Hội Thánh mà Đức Chúa Trời muốn!

Tôi nhận nhiệm vụ hướng dẫn một nhóm nhỏ các tín hữu người Lào học Kinh Thánh trong Hội Thánh tư gia của họ. Khi chúng tôi cùng nhau học bài học trở thành muối và ánh sáng, họ kể với tôi rằng ở quê hương của họ, họ ngâm tre trong muối. Sau khi muối thấm vào tre, họ có thể uốn nắn và định hình nó. Họ đã mạnh dạn chia sẻ với tôi rằng với tư cách là Cơ đốc nhân, họ dự định trở thành muối để có thể định hướng cho đất nước mới mà họ đang định cư.

Khi Hội Thánh rời đi, thế giới sẽ hoàn toàn hư mất. Nếu muối mất đi vị mặn của nó, nó không thể được dùng làm chất bảo quản. Không có gì ngăn chặn sự thối rữa (Ma-thi-ơ 5:13). Thế giới của chúng ta đang rất cần những người có thể đứng vào chỗ trống và ngăn chặn sự thối rữa. Nếu chúng ta – các Cơ Đốc nhân không ngăn chặn sự thối rữa của thế giới, vấn đề không nằm ở thế giới; mà là ở chúng ta. Chúng ta không thể đổ lỗi cho bóng tối rằng nó tối, vì tối là bản chất của bóng tối. Chỉ khi có ánh sáng, thì mới không còn sự tối.

THIẾT LẬP THỨ TỰ ƯU TIÊN THEO KẾ HOẠCH CỦA CHÚA#

Đấng Christ luôn chú ý đến ý muốn của Đức Chúa Cha. Ngài chỉ có ba năm rưỡi để hoàn thành nhiệm vụ, nhưng Ngài mang lại ảnh hưởng nhiều hơn bất kỳ ai trên thế giới này. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, Đức Chúa Giê-xu đã làm cho ứng nghiệm vô số lời tiên tri, huấn luyện một nhóm môn đồ để tiếp tục công việc của Ngài, chiến thắng mọi quyền lực của bóng tối và cái chết, và trở thành của lễ chuộc tội duy nhất được Đức Chúa Trời chấp nhận cho tội lỗi của cả nhân loại. Đức Chúa Giê-xu đã tối ưu hóa việc sử dụng thời gian của Ngài. Qua mối quan hệ với Đức Chúa Cha, Đức Chúa Giê-xu đã nhận được sự hướng dẫn hàng ngày để thực hiện trọn vẹn tất cả những gì Đức Chúa Cha muốn Ngài làm.

Là Cơ Đốc nhân, chúng ta cần dành thời gian ở bên Đức Chúa Trời mỗi ngày để Ngài có thể đặt kế hoạch của Ngài vào lòng chúng ta. Bằng cách này, Đức Chúa Trời chuẩn bị chúng ta để chúng ta có thể đối diện với bất kỳ tình huống bất ngờ nào xảy ra trong ngày. Chúa muốn chúng ta tiếp cận sức mạnh, sự khôn ngoan và quyền năng của Ngài để đối phó với những gì sẽ xảy ra, giống như Đức Chúa Giê-xu đã làm. “Con vì họ mà cầu nguyện; chẳng phải vì thế gian mà cầu nguyện, nhưng vì kẻ Cha đã giao cho Con, bởi chưng họ thuộc về Cha.” (Giăng 17:9). Nhưng bạn có kinh nghiệm sự dẫn dắt thiên thượng này hay không phụ thuộc vào sự sẵn lòng tìm kiếm, yêu mến và vâng phục Đức Chúa Trời của bạn.

Có một nhà truyền giáo nổi tiếng nọ, một hôm ông nhận được cuộc gọi từ tổng thống. Khi được thông báo rằng tổng thống muốn nói chuyện với ông, nhà truyền giáo tiếp tục cầu nguyện thêm khoảng mười lăm phút nữa, và để tổng thống phải chờ. Vì không quen phải chờ đợi, ngay câu đầu tiên, tổng thống đã hỏi nhà truyền giáo có điều gì quan trọng đến mức khiến ông phải để cho tổng thống chờ lâu như vậy. Nhà truyền giáo trả lời rằng khi nghe tin báo có cuộc gọi từ tổng thống, ông biết việc này chắc hẳn phải là việc rất khẩn cấp. Vì vậy, ông phải tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời trước nhất để có thể giúp đỡ cho lãnh đạo của quốc gia.

Một trong những nhiệm vụ cuối cùng mà Đức Chúa Cha dành cho Đức Chúa Giê-xu là trở lại trái đất này để đón các tín hữu trung thành của Ngài và đưa họ vào thiên đàng, là nơi đã được chuẩn bị cho họ. Đây sẽ là một sự kiện đầy vinh quang (Giăng 14:2-3).

Đấng Christ cũng hứa rằng Ngài sẽ trở lại. Lời hứa này là một hy vọng giúp các tín hữu trong thời kỳ bị bức hại giữ vững đức tin cho đến cuối cùng (1 Phi-e-rơ 4:17-19; 5:8-11; Khải Huyền 2:3, 10, 13). Dù có bị thế gian bức hại, vu khống, phân biệt đối xử, hay làm cho thương tổn, thì đối với các tín hữu, phần thưởng mà họ sẽ nhận được là xứng đáng. Cũng như sứ đồ Phao-lô, các tín hữu khắp thế giới trong suốt các thế kỷ qua đã kiên định giữ vững đức tin vào Đấng đã chết và sống lại đời đời, là Đấng sẽ dẫn tất cả những ai trung tín với Ngài bước vào vương quốc của Ngài đời đời (1 Cô-rinh-tô 9:24-27).

CẢM NHẬN SỰ THÔI THÚC MẠNH MẼ#

Trong khi chúng ta chờ đợi sự trở lại của Đức Chúa Giê-xu, chúng ta có rất nhiều việc phải làm. Thời gian thì ngắn ngủi. Không ai trong Tân Ước thể hiện điều này rõ ràng hơn Phao-lô. Phao-lô sống với mong muốn mãnh liệt là đưa càng nhiều người vào vương quốc của Đức Chúa Trời càng tốt. Hãy đọc những gì ông viết cho các tín hữu tại Cô-rinh-tô. Phao-lô chạy đua để chiến thắng. Ông là hình mẫu cho mọi tín hữu về lòng nhiệt thành và sự cống hiến cho sứ mệnh mà Chúa đã giao, giống như một vận động viên Olympic. Phao-lô không phải là người chịu bằng lòng với vị trí thứ hai. Phao-lô đã “trung thành đến nỗi chịu chết,” và Chúa đã dành cho ông “mão triều thiên của sự sống” (Khải Huyền 2:10).

KINH NGHIỆM SỰ KHẨN CẤP#

Đức Chúa Giê-xu đã kể một số ẩn dụ minh họa cho sự trở lại bất ngờ của Ngài (Ma-thi-ơ 25:1-13; 24:45-51). Trong một ẩn dụ, Ngài kể về hai đầy tớ được giao nhiệm vụ làm quản gia coi sóc nhà của chủ. Một đầy tớ trung tín với trách nhiệm được giao. Khi chủ trở lại bất ngờ, anh ta được thưởng xứng đáng. Còn người kia là kẻ ác - đánh đập các đầy tớ khác và ăn uống với những kẻ say rượu. Khi chủ trở lại và thấy anh ta lạm dụng và thiếu trách nhiệm, anh ta bị đày vào “nơi của những kẻ giả hình, là nơi có khóc lóc và nghiến răng” (Ma-thi-ơ 24:45-51). Chúng ta được xem là khôn ngoan khi tận tâm làm những việc chủ giao cho, vì còn gì tuyệt vời hơn khi Đức Chúa Giê-xu trở lại và Ngài thấy chúng ta là những đầy tớ ngay lành và trung tín!

Chúng ta không thể biết khi nào Đức Chúa Giê-xu sẽ trở lại, và chúng ta cũng không biết khi nào Ngài sẽ gọi chúng ta về với Ngài. “Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết mà thôi … Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến … Vậy thì các ngươi cũng hãy chực cho sẵn, vì Con người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ.” (Ma-thi-ơ 24:36, 42, 44).

Người được Đức Chúa Trời sử dụng biết rằng mỗi người trong chúng ta chỉ có đủ thời gian để hoàn thành những nhiệm vụ mà Chúa đã chuẩn bị từ trước cho chúng ta làm. Nếu chúng ta dành thời gian đó cho những việc riêng của mình thay vì nhiệm vụ Chúa giao, thì thời gian chúng ta đã lãng phí là không thể lấy lại được. “Vì Con người sẽ ngự trong sự vinh hiển của Cha mình mà giáng xuống cùng các thiên sứ, lúc đó, Ngài sẽ thưởng cho từng người, tùy việc họ làm” (Ma-thi-ơ 16:27).

NHẬN LẤY TRÁCH NHIỆM#

Một trong những ẩn dụ của Đức Chúa Giê-xu là về các ta-lâng. Ẩn dụ này đề cập đến vấn đề trách nhiệm (Ma-thi-ơ 25:14-30). Ẩn dụ này cũng nói rõ những gì Đức Chúa Trời mong đợi nơi dân của Ngài. Mỗi người đều được trao cơ hội để phục vụ, và Chúa muốn họ sử dụng những gì đã được Ngài giao cho họ để làm lợi ra cho vương quốc của Ngài. Sẽ có một thời điểm mà chúng ta phải đứng trước ngai phán xét của Đấng Christ và phải chịu trách nhiệm về cách chúng ta sử dụng những gì đã được giao cho mình, dù là tài năng, ân tứ, tài nguyên, thời gian, lời nói, hay hành động – tất cả những gì chúng ta đã làm và những gì chúng ta đã bỏ qua. Những ai trung tín sẽ nhận được phần thưởng trên thiên đàng tương xứng với sự trung tín của họ. Nhưng những ai thiếu trách nhiệm, ngu dại, và không đáng tin cậy sẽ bị trừng phạt và xa cách Đức Chúa Trời mãi mãi.

Đấng Christ cũng cho chúng ta biết tiêu chuẩn để Ngài thi hành sự phán xét. Đó là cách chúng ta sống và mối quan hệ của chúng ta với Chúa. Chúng ta có làm theo ý muốn của Chúa? Và chúng ta có mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Giê-xu, là Chúa của chúng ta không? Làm việc tốt thôi là chưa đủ. Chúng ta phải vâng lời Chúa, và hoàn thành những gì Chúa muốn chúng ta làm trong mối quan hệ với Ngài.

2 Cô-rinh-tô 5:9-10 khuyên chúng ta nên sống cuộc đời mình trong tinh thần sẵn sàng cho sự phán xét. “Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể nầy, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa. Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt.”

XÁC ĐỊNH THỨ TỰ ƯU TIÊN#

Vì thời gian của chúng ta sống trên đất này là có hạn, nên chúng ta cần sắp xếp các ưu tiên của mình với tư cách là Cơ Đốc nhân theo sự hướng dẫn của Đấng Christ. Kinh Thánh có đầy đủ những chỉ dẫn giúp chúng ta xác định thứ tự ưu tiên. Dưới đây là một số câu Kinh Thánh bạn có thể dùng để xác định thứ tự ưu tiên và so sánh với các việc làm của mình.

  • “Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa.” (Ma-thi-ơ 6:33).

  • “Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. 14 Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.” (Ma-thi-ơ 7:13-14).

  • “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi.” (Ma-thi-ơ 7:21).

  • “Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.” (Ê-phê-sô 2:10).

  • “Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta.” (Giăng 14:15).

Việc nhận ra rằng chúng ta không có thời gian vô hạn để sống trên đất này sẽ khiến tư tưởng của người được Đức Chúa Trời sử dụng hướng về thiên đàng. Thỉnh thoảng bạn có thể sẽ nghe người ta nói thế này: “Anh ta quá hướng về thiên đàng đến nỗi không còn ích lợi gì cho đất này”. Tuy nhiên, câu nói giễu cợt này hoàn toàn sai lầm. Những người mang lại những ích lợi thực tế và có ý nghĩa nhất trên đất này là những người có tâm trí của Đấng Christ – tức một tâm trí luôn hướng về thiên đàng!

Nếu bạn làm Mục sư đủ lâu, bạn hẳn đã trải qua việc này không ít lần: Người ta đến văn phòng của bạn để tâm sự và bật khóc vì hối tiếc cho những năm tháng họ đã phí phạm một cách vô ích. Họ đã mải chạy theo những điều của thế gian thay vì ưu tiên tìm kiếm nước Đức Chúa Trời trước nhất.

Tôi nhớ mình đã phát biểu tại tang lễ của mẹ vợ tôi - bà Carrie Wells - một người rất kính sợ Chúa. Bà đã nuôi dạy ba đứa con: Hai người thành nhà truyền giáo và người còn lại là Mục sư. Hầu hết các cháu của bà đều có mặt trong tang lễ. Một số đã hoàn thành chương trình học tại Viện Thần học và đang phục vụ trong các Mục vụ Truyền giáo. Một bài phát biểu khác do con trai cả của tôi đọc. Nó nói về sự tận tụy của bà với Chúa và những lời cầu nguyện trung tín của bà cho các con, các cháu, và các chắt. Con trai tôi mô tả ảnh hưởng của bà trên cuộc đời mình và cách bà là hình mẫu của một tôi tớ trung tín của Chúa. Tôi nhớ mãi hình ảnh sáu người cháu trai khiêng quan tài của bà ra xe tang với tình yêu thương mà chúng dành cho bà.

Có rất nhiều nước mắt rơi trong ngày hôm đó - nước mắt của sự buồn bã và nước mắt của niềm vui. Nhiều người trong chúng tôi vui mừng vì bà đã được giải thoát khỏi một trí óc và cơ thể suy yếu. Nhưng những người khác thì xót xa trong lòng vì họ nhận ra rằng đám tang của họ sẽ rất khác. Họ đã không sống cuộc đời làm đẹp lòng Chúa. Một số bị xa lánh bởi con cái của mình. Họ hiếm khi gặp mặt, và càng ít khi cầu nguyện cho các cháu và các chắt. Họ sống ích kỷ cho những thứ sẽ qua đi, và một số khác cảm thấy tiếc nuối vì biết quá ít về Đấng sẽ phán xét họ và hối tiếc vì họ đã không đại diện Đấng Christ để đầu tư vào các mối quan hệ như đáng phải có.

Mẹ vợ tôi có rất nhiều bạn bè. Khi tôi nhìn qua một biển người tóc bạc trong buổi lễ hôm đó, tôi tự hỏi đã có bao nhiêu năm trong đời chúng ta dùng để đầu tư cho cõi đời đời. Chúng ta không bao giờ biết Chúa ban cho mỗi người bao nhiêu thời gian. Vì vậy, chúng ta nên sử dụng thời gian mà mình đang có một cách khôn ngoan.

Bạn có thể nghĩ rằng với chỉ ba năm rưỡi cho công tác đi truyền giảng công khai, Đức Chúa Giê-xu hẳn đã phải vội vã cố gắng đi đến càng nhiều nơi càng tốt, giảng cho càng nhiều người càng tốt, và làm càng nhiều phép lạ càng tốt. Thế nhưng, chúng ta đọc thấy Ngài thường xuyên lánh ra những nơi vắng vẻ để cầu nguyện. Chúng ta đọc thấy Ngài chỉ đưa có ba người đi theo để chứng kiến cảnh Ngài hóa hình trên núi. Đức Chúa Giê-xu đã dành thời gian trò chuyện với một người phụ nữ ở chỗ này, dành thời gian cho một người mù ở chỗ kia, dành thời gian cho những người đến tìm gặp Ngài vào ban đêm.

Vậy chìa khóa cho sự thành công trong mục vụ của Đức Chúa Giê-xu là gì? Chìa khóa không nằm ở số lượng các hoạt động mà Đức Chúa Giê-xu đã thực hiện. Chìa khóa nằm ở sự vâng lời - Đức Chúa Giê-xu đã thực hiện đúng những hoạt động mà Đức Chúa Cha muốn Ngài làm. Con của Đức Chúa Trời đã làm phép lạ, cũng như khiến cho đám đông kinh ngạc bởi những lời dạy của Ngài. Nhưng trên hết, Ngài hoàn toàn vâng lời Đức Chúa Cha.

Đức Chúa Giê-xu đã cho thấy người được Đức Chúa Trời sử dụng không bị điều khiển bởi hoàn cảnh hay con người. Những người đi theo Đức Chúa Giê-xu nghĩ rằng họ biết điều gì là tốt nhất cho Ngài, như khi các môn đồ cố ngăn cản trẻ em được đưa đến với Đức Chúa Giê-xu để Ngài ban phước cho chúng (Ma-thi-ơ 19:13-15). Đức Chúa Giê-xu đã cho chúng ta thấy rằng việc không có nhiều thời gian không bao giờ buộc Ngài phải hành động vội vàng hoặc bằng sức riêng, như khi Đức Chúa Giê-xu được báo tin bạn của Ngài là La-xa-rơ đang hấp hối (Giăng 11:1-12:19). Đức Chúa Giê-xu luôn dành thời gian với Đức Chúa Cha và hành động đúng theo ý muốn của Cha Ngài trong mọi hoàn cảnh.

SUY NGẪM - CẦU NGUYỆN#

Khi bạn đến với Chúa trong lần cầu nguyện tiếp theo, hãy cầu xin Ngài chỉ cho bạn biết rõ lĩnh vực bạn cần đầu tư thời gian và khả năng để chúng mang lại ích lợi như Ngài mong muốn. Hãy xem xét nơi bạn dành phần lớn thời gian của mình. Đó có phải là nơi Chúa đã đặt để bạn, hay là đó là nơi bạn tự chọn không theo sự dẫn dắt của Chúa?

  • Đức Chúa Trời sẽ dẫn bạn vào những tình huống đòi hỏi bạn phải đưa ra quyết định. Đó có thể là ngã ba đường - nơi bạn phải quyết định xem mình có vâng theo Chúa hay không. Cách bạn phản ứng khi thời điểm này xảy ra sẽ quyết định liệu Đức Chúa Trời có thể sử dụng bạn, hoặc bạn sẽ đi con đường riêng của mình và bỏ lỡ tất cả những gì Chúa đã định cho cuộc đời bạn.

  • Người được Đức Chúa Trời sử dụng sẽ “bước đi bởi đức tin, chớ chẳng phải bởi mắt thấy” (2 Cô-rinh-tô 5:7) khi người đó gặp khủng hoảng đức tin. Đây sẽ là thời gian riêng tư của bạn. Hậu quả hoặc kết quả gây ra do quyết định của bạn sẽ ảnh hưởng đến mọi mối quan hệ mà bạn có. Hãy cầu nguyện rằng phản ứng của bạn trong khủng hoảng sẽ tôn vinh Chúa.

  • Đức Chúa Trời muốn chúng ta chuyển sự chú ý từ hoàn cảnh của mình sang Ngài. Khi chúng ta hướng mắt về Ngài, cuộc khủng hoảng của chúng ta dường như rất nhỏ bé. Chúng ta, là những tạo vật, đứng trước Chúa, là Đấng Tạo Hóa. Ngài là Đấng có thể làm mọi điều Ngài muốn. Vậy, hãy nhạy cảm thuộc linh với các hoạt động của Chúa trong gia đình, cộng đồng, nơi làm việc, và quốc gia của bạn. Dành thời gian để cầu nguyện tập trung vào hoạt động của Chúa trong từng lĩnh vực đó.

  • Đấng Christ không cầu nguyện cho thế gian. Ngài cầu nguyện cho những người theo Ngài và cho những người sẽ tin Ngài vì lời chứng của họ (Giăng 17:9). Đấng Christ biết rằng những người này sẽ là chìa khóa để cứu một thế giới hư mất. Hãy cầu nguyện rằng bạn và các tín hữu trong Hội Thánh của bạn sẽ gần gũi hơn với Đấng Christ và sống cho Ngài.

- Hết chương 5 -