Trong nhiều phân đoạn, những lời trích dẫn Cựu Ước trong Tân Ước không hoàn toàn trùng khớp với những gì chúng ta đọc trong các bản Cựu Ước. Có một số nguyên nhân giải thích cho hiện tượng này.
Thứ nhất, các bản Cựu Ước của chúng ta nhìn chung được dịch từ Văn bản Masora (Masoretic text), bản văn Do Thái truyền thống, với những bản thảo sớm nhất có niên đại vào khoảng năm 900 SC. Đương nhiên, không một tác giả Tân Ước nào có trong tay bản văn này. Nếu họ biết tiếng Hê-bơ-rơ (như Phao-lô), họ sẽ trích dẫn một phiên bản Hê-bơ-rơ cổ xưa hơn và tự mình dịch sang tiếng Hy Lạp. Bản văn này không nhất thiết phải giống hệt với bản văn mà chúng ta đang có.
Thứ hai, ngày nay chúng ta đã nỗ lực đưa các bản in Kinh Thánh Hê-bơ-rơ sát với nguyên bản nhất có thể bằng cách đối chiếu Văn bản Masora với các bản thảo được tìm thấy trong Cuộn Biển Chết tại Qumran, cùng các bản dịch sớm từ tiếng Hê-bơ-rơ sang tiếng A-ram và Hy Lạp. Các tác giả Tân Ước không có được đặc quyền nghiên cứu đối chiếu đó. Họ đơn thuần chấp nhận bất kỳ bản văn Hê-bơ-rơ nào họ có trong tay. Thực tế, rất khó xảy ra việc nhiều người trong số họ sở hữu riêng cho mình bất kỳ phần nào của Kinh Thánh, nên họ cảm thấy may mắn mỗi khi kiếm được một bản sao của một phân đoạn Kinh Thánh nào đó.
Thứ ba, ngay cả khi một tác giả Tân Ước biết tiếng Hê-bơ-rơ, ông không nhất thiết phải sử dụng bản văn đó. Ông thường dùng bản văn mà độc giả của mình quen thuộc. Chẳng hạn, Phao-lô đôi khi trích dẫn bản dịch tiếng Hy Lạp của Cựu Ước, tức Bản Bảy Mươi (Septuagint), mặc dù ông biết tiếng Hê-bơ-rơ và có lẽ đã thuộc lòng Cựu Ước bằng ngôn ngữ này.
Thứ tư, không phải tất cả các tác giả Tân Ước đều biết tiếng Hê-bơ-rơ. Tác giả sách Hê-bơ-rơ, chẳng hạn, không bao giờ trích dẫn trực tiếp từ bản văn Hê-bơ-rơ, nên nếu ông có biết ngôn ngữ này, ông đã che giấu rất kỹ. Do đó, khi đọc Hê-bơ-rơ 1:6, nơi trích dẫn Phục truyền Luật lệ Ký 32:43, chúng ta phát hiện ra rằng lời trích dẫn trong Tân Ước không khớp với các bản Cựu Ước (được dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ), mà lại trùng khớp với Bản Bảy Mươi. Trong nhiều trường hợp, Bản Bảy Mươi sát với bản Hê-bơ-rơ đến mức chúng ta không thể phân biệt được tác giả đang dùng bản dịch này hay tự mình dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ sang tiếng Hy Lạp, nhưng trong phân đoạn này, có đủ sự khác biệt để chúng ta nhận thấy tác giả chắc chắn đã sử dụng Bản Bảy Mươi.
Thứ năm, đôi khi các tác giả Tân Ước chọn một bản dịch cụ thể vì nó diễn đạt đúng trọng tâm ý nghĩa mà họ muốn truyền tải, giống như các mục sư ngày nay đôi khi chọn trích dẫn từ những bản dịch trình bày phân đoạn kinh văn theo cách ủng hộ luận điểm họ muốn nhấn mạnh. Ví dụ, khi đọc Ê-phê-sô 4:8, chúng ta thấy nó khác với Thi Thiên 68:18. Điều này không phải vì Phao-lô dùng Bản Bảy Mươi, vì trong trường hợp này bản dịch đó trùng khớp với các bản Kinh Thánh của chúng ta. Thay vào đó, Phao-lô dường như đã sử dụng một trong các bản dịch tiếng A-ram (được gọi là Targum - bản diễn giải). Trong nhiều hội đường Do Thái, Kinh Thánh trước tiên được đọc bằng tiếng Hê-bơ-rơ rồi sau đó được dịch sang tiếng A-ram, vì đó là ngôn ngữ thông dụng của dân chúng. Phao-lô hẳn đã quen thuộc với cả hai phiên bản, và trong trường hợp này, ông đã chọn dịch sang tiếng Hy Lạp không phải từ bản Hê-bơ-rơ mà từ bản A-ram. Bản văn Hê-bơ-rơ sẽ không thể diễn đạt trọn vẹn ý nghĩa mà ông muốn nhấn mạnh.
Thứ sáu, chúng ta cần nhớ rằng các tác giả Tân Ước hiếm khi, nếu không muốn nói là không bao giờ, có được sự thuận tiện để tra cứu các phân đoạn họ muốn trích dẫn. Thông thường, họ trích dẫn theo trí nhớ. Họ chỉ cần nắm được ý chính của văn bản Cựu Ước và không quá bận tâm liệu lời trích dẫn của mình có tuyệt đối chính xác từng câu chữ hay không.
Thứ bảy, khi trích dẫn Cựu Ước, đôi khi tác giả kết hợp nhiều hơn một phân đoạn trong một lời diễn giải tổng quát. Chẳng hạn, trong 1 Cô-rinh-tô 2:9, Phao-lô có lẽ đang diễn giải tự do ý tưởng từ cả Ê-sai 64:4 và 65:17. Trong Gia-cơ 2:23, tác giả kết nối Sáng Thế Ký 15:6 với ý chính của hoặc là 2 Sử Ký 20:7 hoặc Ê-sai 41:8. Khi đang đọc chép một cách trôi chảy và đang bận tâm đến một vấn đề nào đó trong hội thánh, một lời diễn giải tổng quát từ Cựu Ước thường hoàn thành tốt vai trò của nó mà không cần phải dừng lại để nhớ chính xác nguyên văn của văn bản.
Cuối cùng, chúng ta phải nhớ rằng có những trường hợp tác giả Tân Ước không hề có chủ ý trích dẫn Cựu Ước, nhưng tâm trí ông đã thấm nhuần Lời Chúa đến mức nó tuôn chảy ra gần như thể đó là chính lời lẽ của ông. Trong những trường hợp này, không có công thức trích dẫn nào (như “có lời chép rằng”) được sử dụng, nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng tác giả đang trích dẫn vì văn bản quá giống với Cựu Ước.
Vậy rốt cuộc chúng ta muốn nói gì? Chúng ta nhận thấy các tác giả Tân Ước cũng là những con người bình thường như chúng ta, chỉ khác là họ thiếu đi những công cụ nghiên cứu học thuật mà ngày nay chúng ta đang có.
-
Đôi khi họ trích dẫn từ bản dịch họ ưa thích hoặc bản dịch phù hợp với ý họ đang trình bày, giống hệt như chúng ta ngày nay.
-
Đôi khi họ diễn giải tự do và trích dẫn theo trí nhớ, cũng giống như chúng ta.
-
Đôi khi nguồn tư liệu họ có được rất hạn chế, cũng giống như hoàn cảnh của một số độc giả Kinh Thánh thời hiện đại.
-
Cuối cùng, nhiều người trong số họ không biết tiếng Hê-bơ-rơ, nên đành phải chấp nhận bất kỳ bản dịch tiếng Hê-bơ-rơ nào họ có thể đọc được, cũng giống như thực trạng của rất nhiều người trong chúng ta hiện nay.
Qua những điều này, chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã sử dụng những con người hết sức bình thường để viết nên Tân Ước. Họ không hề sở hữu tri thức siêu nhiên về văn bản Cựu Ước, nhưng sống và hoạt động trong những giới hạn của nền văn hóa và năng lực bản thân.
Thế nhưng, chính những văn thư Tân Ước mà họ viết nên mới là những tài liệu được Hội Thánh tin nhận là có sự linh hứng. Các giáo huấn trong Tân Ước được linh hứng không phải vì họ có thể chứng minh từ Cựu Ước rằng những điều họ nói phù hợp với Kinh Thánh; nhưng chúng được linh hứng chính vì Đức Thánh Linh đã hà hơi linh hứng cho những gì họ tự tay viết ra. Không một ai trong số họ đang mang đến cho độc giả những bài giảng về văn bản chuẩn xác của Cựu Ước. Thực ra, họ thậm chí còn không hề đưa ra những giáo huấn về thần học Cựu Ước. Điều họ đang thực hiện là rao giảng chân lý Tân Ước và chỉ ra rằng Cựu Ước đang ủng hộ cho luận điểm mà họ đang trình bày. Nhìn chung, điều này hoàn toàn đúng, dẫu rằng họ không có trong tay những bản văn Cựu Ước tương đối chính xác và được nghiên cứu kỹ lưỡng như chúng ta ngày nay. Khi họ có vẻ như “sai” (lưu ý rằng cách họ giải nghĩa Cựu Ước thời đó khác với cách chúng ta làm hiện nay), chúng ta cần nhớ rằng:
-
Rất có thể họ thực sự đang nắm giữ một bản đọc tốt hơn cho phân đoạn kinh văn liên hệ so với bản chúng ta đang có trong Kinh Thánh ngày nay
-
Đức Thánh Linh, Đấng đã linh hứng văn bản Cựu Ước, hoàn toàn có quyền mở rộng ý nghĩa của văn bản ấy.
Vấn đề cốt lõi là, dẫu chúng ta có thể hiểu được lý do tại sao các tác giả Tân Ước trích dẫn Cựu Ước theo cách của họ, thì chính luận điểm Tân Ước mà họ đang muốn nhấn mạnh mới là điều được Đức Thánh Linh linh hứng trong các văn thư Tân Ước. Do đó, dẫu chúng ta có thể thích thú tìm hiểu những gì đang diễn ra và lý do tại sao các lời trích dẫn Cựu Ước lại khác với những gì chúng ta mong đợi, thì vấn đề thực sự cần quan tâm lại là liệu chúng ta có đang vâng phục các giáo huấn của Tân Ước hay không.