Đức Chúa Trời ưu ái một người chăng? Ngài có tỏ ra thiên vị người này hơn người kia — trong trường hợp này, A-bên hơn Ca-in chăng? Và phải chăng Đức Chúa Trời ưa thích người chăn chiên hơn người làm nông? Nếu không, đâu là sự khác biệt cốt lõi giữa hai của lễ đầu tiên trong Kinh Thánh?

Cách giải thích truyền thống cho rằng sự khác biệt giữa Ca-in và A-bên là một người dâng của lễ có huyết còn người kia thì không. Nếu cách hiểu này là đúng, tại sao cả chúng ta lẫn Ca-in và A-bên đều không nhận được bất kỳ chỉ dẫn cụ thể nào về điều đó? Cho đến thời điểm này, sự phân biệt huyết và không có huyết chưa từng được nêu ra. Và ngay cả khi sự phân biệt giữa việc có huyết và không có huyết đã phổ biến vào thời kỳ sơ khai này, tại sao cả hai của lễ lại được gọi xuyên suốt toàn bộ ký thuật này bằng thuật ngữ Hê-bơ-rơ minḥâh, một “lễ vật” hay “tế lễ”?

Những câu trả lời cho các câu hỏi này không khó như vẻ bề ngoài. Chỉ có một điểm có thể gây bối rối một cách chính đáng: không có yếu tố nào trong biến cố này cho thấy đây là sự bắt đầu cho hệ thống tế lễ. Mặc dù dường như đây là lần đầu tiên có người dâng tế lễ, nhưng văn bản không nói cụ thể điều đó. Điều đó chỉ là một sự suy luận.

Thật ra, giả thuyết cho rằng cha của Ca-in và A-bên, tức A-đam, là người khởi xướng các tế lễ có thể gần với lẽ thật hơn, vì không có mệnh lệnh nào cho phép hoặc yêu cầu tế lễ xuất hiện trong những chương đầu tiên của Sáng Thế Ký. Toàn bộ chủ đề về nguồn gốc của tế lễ là một vấn đề mà các học giả đã tranh luận gay gắt và kéo dài, nhưng chủ đề nầy vẫn còn là một bí ẩn.

Ngay cả với sự thận trọng như vậy, chúng ta phải cẩn thận đừng áp đặt ngược vào thời kỳ A-đam và Ê-va những chỉ dẫn mà sau này Môi-se đã nhận được về các tế lễ. Từ được dùng để mô tả “tế lễ” xuyên suốt biến cố Ca-in và A-bên là từ được dùng theo nghĩa rộng nhất, minḥâh. Nó bao hàm bất kỳ loại lễ vật nào mà bất kỳ người nào có thể mang đến. Do đó, giá trị mà lễ vật nầy có được so với lễ vật kia không nằm ở nội dung hay loại lễ vật — bao gồm cả việc có huyết hay không.

Dĩ nhiên, có một vấn đề với “lễ vật” của Ca-in — chính ông là vấn đề. Sáng Thế Ký 4:3 mô tả cách Ca-in chỉ mang “một ít” hoa trái của ruộng đồng. Không thể nói gì về việc, với tư cách là một người làm nông, ông đương nhiên mang những gì mà người nông dân có để dâng. Nhưng khi của lễ ông được đem ra so sánh với của lễ A-bên, một khiếm khuyết lập tức lộ ra.

A-bên đã dâng những gì khiến ông phải trả giá đắt, những “miếng mỡ” — trong nền văn hóa đó được coi là những phần ngon nhất — của những “con đầu lòng” trong bầy chiên mình. A-bên rất có thể đã hợp lý hóa, như chúng ta có thể đã làm, rằng ông sẽ đợi cho đến khi một số con đầu lòng đó trưởng thành và sinh ra một, hai hoặc ba chiên con của riêng chúng. Chắc chắn tại thời điểm đó, ông có thể dâng một lễ vật lớn hơn cho Đức Chúa Trời, và bản thân A-bên cũng sẽ có lợi hơn. Nhưng thay vào đó, ông đã dâng những gì khiến ông phải trả giá nhiều nhất, những “con đầu lòng.”

Những dấu hiệu rõ ràng cho thấy chúng ta đang đối diện với sự tương phản giữa sự thờ phượng hình thức và sự thờ phượng chân thật là sự nhấn mạnh mà văn bản dành cho hai người nam và động từ mà nó sử dụng cho cả hai. Trong Sáng Thế Ký 4:4–5 có bốn dấu hiệu nhấn mạnh được sử dụng khi đề cập đến hai anh em.

Theo nghĩa đen, bản Hê-bơ-rơ của các câu 4 và 5 chép, “Về phần A-bên, chàng đã mang đến, quả thật, chính chàng, một số con đầu lòng của bầy chiên và một số phần mỡ thuộc về chàng. Và Đức Giê-hô-va đoái xem A-bên và [sau đó] của lễ của người. Nhưng Ca-in và [sau đó] của lễ của người, Ngài đã không đoái xem.”

Rõ ràng trọng tâm của đoạn văn này là những người đàn ông. Có bốn yếu tố nhấn mạnh trong văn bản cho thấy sự nhấn mạnh này: thứ nhất, tên của người đàn ông; tiếp theo là động từ “mang” kèm hậu tố đại từ; sau đó là hạt từ nhấn mạnh “gam”; và cuối cùng là đại từ nhân xưng độc lập. Thật khó để thấy tác giả có thể làm rõ hơn nữa rằng chính những người đàn ông, và tình trạng tâm hồn của họ, mới là yếu tố quyết định trong việc Đức Chúa Trời lựa chọn hy sinh của ai sẽ được chấp nhận. Văn bản dường như lặp đi lặp lại một cách nhấn mạnh: “Còn A-bên, anh ta, chính anh ta, anh ta cũng, anh đã mang đến”.

Động từ shā˓âh có nghĩa là “nhìn chăm chú,” nhưng khi được dùng với giới từ ˒el (“về phía” hoặc “hướng đến”), như ở đây, nó có nghĩa là “đoái xem cách vui lòng”. Kể từ thời Luther, các nhà giải kinh đã nhận thấy rằng ân sủng của Đức Chúa Trời được hướng đến người đó trước tiên và sau đó, và chỉ sau đó, mới hướng đến của lễ mà người đó mang đến. Theo đó, điều nầy trở thành yếu tố quyết định trong mọi sự thờ phượng: thái độ tấm lòng của cá nhân. Nếu tấm lòng không được thấy là đẹp lòng, thì lễ vật cũng vậy, không được chấp nhận.

Đúng là một bản dịch Hy Lạp cổ của văn bản nầy đã dịch shā˓âh sang tiếng Hy Lạp là enepyrisen, “Ngài đã nhóm lửa.” Rõ ràng người dịch muốn nói rằng trong một số dịp, Đức Chúa Trời đã nhóm lửa cho những tế lễ được chấp nhận. Nhưng vì có một bổ ngữ kép cho động từ nầy, cụ thể là A-bên và tế lễ của ông, bản dịch nầy không thể chấp nhận được, vì nó sẽ khiến cả người nam bị thiêu đốt cũng như tế lễ!

Việc tấm lòng của Ca-in chứ không phải của lễ ông là vấn đề thực sự ở đây có thể được thấy từ phần cuối của câu 5: “Ca-in giận lắm mà gằm nét mặt” — theo nghĩa đen, “Ca-in bừng bừng phẫn nộ [hoặc, đến tận tâm can] và mặt ông sa sầm.”

Sự bất bình của Đức Chúa Trời đối với Ca-in đã bộc lộ thực trạng đáng buồn trong tấm lòng Ca-in. Thay vì hành động để điều chỉnh thái độ của mình, Ca-in đã để phát triển thành tội giết người. Tuy nhiên, vào lúc đó, cơn giận đã ẩn mình trong đôi mắt Ca-in — ông tránh nhìn thẳng vào mắt bất kỳ ai. Bằng cách lảng tránh ánh nhìn của mình, ông đã ngăn cản người khác nhìn thấy (qua đôi mắt) những gì đang có trong tấm lòng ông.

Hermann Gunkel — người đã thiếu khôn ngoan khi gọi biến cố này là một thần thoại — thực sự vô căn cứ khi tuyên bố câu chuyện này dạy rằng Đức Chúa Trời yêu thích người chăn chiên chứ không phải người làm nông. Bất chấp những người khác đã noi theo Gunkel, không có mối liên hệ nào được chứng minh giữa ký thuật này và bất kỳ câu chuyện song song nào ở Cận Đông cổ đại về sự ganh đua giữa người chăn chiên và người làm nông.

Tế lễ trong Cựu Ước không phải là một cách “được phê duyệt trước” để kiếm công trạng trước mặt Đức Chúa Trời. Nguyên tắc đằng sau nó vẫn giống như đối với mọi hành động phục vụ và nghi lễ trong đức tin Cơ Đốc ngày nay: Đức Chúa Trời luôn soi xét người dâng và người thờ phượng trước khi Ngài soi xét lễ vật, sự phục vụ hay sự thờ phượng.

Xem thêm giải thích cho 1 Sa-mu-ên 15:22; Thi Thiên 51:16-17, 19.