Có quá nhiều người giả định rằng không có một giáo lý thống nhất và chắc chắn nào về chủ đề sự sống đời sau trong Cựu Ước. Hầu hết các học giả Cựu Ước chỉ xem Đa-ni-ên 12:2 là phân đoạn Kinh Thánh duy nhất đề cập rõ ràng và không thể tranh cãi đến sự sống lại của kẻ chết: “Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì để chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời.” Thật đáng tiếc, ngay cả những người thừa nhận điều này lại xác định sai niên đại của Đa-ni-ên vào thế kỷ thứ hai TC.

Một số ít học giả sẵn lòng thêm Ê-sai 26:19 vào phân đoạn Đa-ni-ên 12:2 và xem đây là phân đoạn thứ hai ủng hộ giáo lý về sự sống lại của kẻ chết trong Cựu Ước. Phân đoạn này chép: “Những kẻ chết của Ngài sẽ sống, những xác chết của tôi đều chỗi dậy! Hỡi kẻ ở trong bụi đất, hãy thức dậy, hãy hát! Vì hột móc của Ngài như hột móc lúc hừng đông, đất sẽ buông các âm hồn ra khỏi.”

Tuy nhiên, thật đáng kinh ngạc khi thấy có biết bao học giả nam nữ uyên bác lại phủ nhận cả hai phân đoạn này và lập luận rằng Cựu Ước hầu như không dạy gì về sự sống lại hay sự sống đời sau.

Sự thật là người xưa am hiểu và quan tâm đến chủ đề sự sống đời sau hơn nhiều so với suy nghĩ của người hiện đại. Các dân tộc vùng Cận Đông cổ đại đã viết rất nhiều về cuộc sống sau khi rời khỏi thế gian này. Chỉ cần tham khảo các tác phẩm tiêu biểu như Sử thi Gilgamesh (Gilgamesh Epic), Ishtar xuống Địa ngục (The Descent of Ishtar into the Netherworld) , Sách Người Chết (The Book of the Dead) và các Văn tự Kim tự tháp (the Pyramid Texts). Thật vậy, toàn bộ nền kinh tế Ai Cập được vận hành xoay quanh việc thờ phượng người chết, vì tất cả những ai muốn có phần trong đời sau đều phải được chôn cất quanh kim tự tháp của Pha-ra-ôn. Những gì người Ai Cập mong đợi ở thế giới bên kia được khắc họa qua các hoạt cảnh trên tường những ngôi mộ của họ: ăn uống, ca hát và mọi niềm vui của đời này. Mỗi niềm vui, tất nhiên, sẽ được nhân lên và vẫn được tận hưởng qua một thân thể.

Vào thời Áp-ra-ham đến Ai Cập, những khái niệm này đã được khắc họa rõ nét trên tường qua các chữ tượng hình, bích họa và các mô hình bằng đất sét, để đảm bảo không ai bỏ sót thông điệp. Sự sống đời sau không phải là một giáo lý hiện đại được phát triển bởi một xã hội có học thức bắt đầu suy nghĩ trừu tượng hơn về bản thân và thời đại của mình. Thay vào đó, đó là một khát vọng cổ xưa đã hiện hữu trong lòng nhân loại từ rất lâu trước khi các tổ phụ, tiên tri và vua chúa của Cựu Ước bắt đầu chức vụ của họ. Tại sao chúng ta lại quy ý tưởng này cho các thế kỷ thứ hai và thứ ba TC trong khi đã có bằng chứng mạnh mẽ ủng hộ nó từ thiên niên kỷ thứ ba và thứ hai TC?

Sự đề cập sớm nhất trong Kinh Thánh về khả năng một người phàm có thể cư ngụ trong các vương quốc bất tử của thần linh được tìm thấy trong Sáng Thế Ký 5:24. Tại đây, chúng ta được biết một người tên là Hê-nóc đã sống 365 năm, và trong suốt thời gian đó ông “đồng đi Đức Chúa Trời.” Đột nhiên, “[người] mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi.”

Hê-nóc, tên của ông có nghĩa là “người khởi đầu,” hẳn phải là người vô cùng thánh — không phải vì ông đạt được sự phân biệt này bằng cách tách mình khỏi thế gian và chỉ chiêm ngắm sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Thực tế, ông là cha của Mê-tu-sê-la nổi tiếng (người sống thọ nhất mà chúng ta biết trên hành tinh này, 969 năm!). Và ông còn có các con trai con gái khác. Người đàn ông này hoàn toàn không tách biệt khỏi những lo toan thường nhật và những vấn đề của cuộc sống. Tuy nhiên, ông vẫn có thể bước đi với Đức Chúa Trời.

Bởi vì phẩm chất “đồng đi với Đức Chúa Trời” này chỉ được quy cho Hê-nóc và Nô-ê (Sáng Thế Ký 6:9), nên thật có ý nghĩa khi Ma-la-chi 2:6 cho thấy khái niệm này bao hàm sự thông công mật thiết nhất với Đức Chúa Trời. Thật là một lời tôn vinh tuyệt vời cho một người phàm vốn cũng là tội nhân! Mặt khác, vì Xuất Ê-díp-tô Ký 33:20 dạy rằng “chẳng ai được thấy [Đức Chúa Trời] mà vẫn sống,” nên khả năng gặp gỡ Đức Chúa Trời theo cách bề ngoài, thể chất bị loại trừ.

Nhiều người nghĩ rằng chỉ từ thời Tân Ước trở đi, sự gần gũi và thông công nội tại như vậy với Đức Chúa Trời mới trở nên khả thi. Nhưng ở đây đã có một người đạt được ý thức liên tục không gián đoạn về Đức Chúa Trời hằng sống, dường như tương xứng với những gì chúng ta trải nghiệm trong kỷ nguyên hậu Tân Ước.

Sau 365 năm sống mật thiết với Đấng Toàn Năng, đột nhiên Chúa “tiếp” Hê-nóc. Việc Ngài “tiếp” ông có nghĩa là gì?

Gốc từ Hê-bơ-rơ của động từ “tiếp” (lấy đi) được sử dụng hơn một ngàn lần trong Cựu Ước. Tuy nhiên, trong hai ngữ cảnh — phân đoạn Sáng Thế Ký 5 này và ký thuật về việc Ê-li được tiếp lên trời trong 2 Các Vua 2:3, 10–11 — nó chỉ về việc một người được cất thân thể lên trời.

Dưới ánh sáng của hai trường hợp được tiếp lên trời trong thân thể này, có trường hợp nào khác trong Cựu Ước mà động từ này được sử dụng với ý nghĩa tương tự không?

Có hai ngữ cảnh bổ sung mà ý nghĩa vượt xa hơn việc chỉ đơn thuần được giải cứu khỏi sự chết hay hoạn nạn. Thi Thiên 49 trình bày sự tương phản gay gắt giữa chung cuộc của kẻ ác và chung cuộc của người công bình. Kẻ ác giống như “thú vật bị hư mất” (Thi 49:12, 20) không có chút hy vọng nào là họ “sẽ sống đời đời” (Thi 49:9). Tuy nhiên, người công bình có niềm mong đợi khải hoàn rằng “Đức Chúa Trời sẽ chuộc linh hồn tôi khỏi quyền Âm phủ; vì Ngài sẽ tiếp rước tôi” (Thi 49:15). Ý tưởng cũng giống như trong Sáng Thế Ký 5:24: Đức Chúa Trời sẽ cất, tiếp hoặc tiếp rước chúng ta về với Ngài khi chúng ta qua đời. Nếu tác giả Thi Thiên chỉ nghĩ đến việc mình sẽ được giải cứu khỏi sự chết thêm vài năm, dù biết rằng cuối cùng vẫn phải chết như loài thú, thì bài Thi Thiên này sẽ rất ít ý nghĩa, hoặc hoàn toàn vô nghĩa.

Thi Thiên 73:23–25 cũng đưa ra sự tương phản tương tự giữa kẻ ác và người công bình. Một lần nữa, có một đức tin vượt ra ngoài đời này, và nó tập trung vào động từ “tiếp” (lấy đi) này (tiếng Hê-bơ-rơ là lāqaḥ). Tác giả Thi thiên nói: “Chúa sẽ dùng sự khuyên dạy mà dẫn dắt tôi, Rồi sau tiếp rước tôi trong sự vinh hiển.” (Thi thiên 73:24).

Theo đó, có thể lập luận trên những nền tảng ngôn ngữ và khái niệm rất vững chắc rằng việc “tiếp” một người khỏi đất này ngụ ý rằng người phàm có khả năng cư ngụ trong những vương quốc bất tử. Đối với người tin kính Đức Giê-hô-va trong thời Cựu Ước, sự chết không phải là hết tất cả. Có sự sống đời sau, và sự sống đó là được ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời hằng sống.

Mặc dù Hê-nóc không trải qua “sự sống lại,” nhưng ông đã trải qua sự vinh hiển hóa. Ông đã, cùng với Ê-li, vượt lên trên cuộc sống hay chết này và đi trong thân thể mình để ở cùng Đức Chúa Trời. Vì Hê-nóc chưa từng chết, ông không thể sống lại.

Quan điểm về việc được vào ngay trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời như vậy cũng sẽ chấm dứt mọi suy đoán về bất kỳ loại tình trạng trung gian, nơi chứa đựng hay vị trí nào khác, vì chúng không đúng với Kinh Thánh. Việc nói rằng các tín hữu Cựu Ước ở lại trong một ngăn riêng trong Âm phủ hoặc trong một dạng luyện ngục nào đó đi ngược hoàn toàn với thực tế là Đức Chúa Trời đã cất Hê-nóc và Ê-li “về với chính Ngài.”

Nói rằng Cựu Ước mang lại niềm hy vọng về sự thông công cá nhân với Đức Chúa Trời ở bên kia mồ mả với một thân thể thực sự không phải là điều hoang đường hay sai trật. Niềm hy vọng đó chính là sự dạy dỗ của chính văn bản Kinh Thánh.

Xem thêm giải thích cho Sáng Thế ký 25:8; Gióp 19:23-27; Thi Thiên 49:12, 20; và Truyền đạo 3:19-21