Quan niệm của các thánh Cựu Ước về sự sống sau khi chết là gì? Họ có một niềm tin rõ ràng vào sự sống sau khi chết không? Nếu có, điều đó bao gồm những gì? Ví dụ, đó có phải là một sự tồn tại như bóng ma không? Nó có bao gồm ý thức cá nhân, có nhận thức không? Họ có mong đợi linh hồn được kết hợp với một thể xác không? Vào thời điểm nào? Tất cả những câu hỏi này đều có liên quan để hiểu văn bản này về Áp-ra-ham.
Cụm từ “được trở về với tổ tông mình” (theo Bản Hiệu Đính Truyền thống) tương tự với một cụm từ khác, “trở về với tổ phụ mình”, được tìm thấy trong Sáng thế Ký 15:15. Cụm từ thứ nhất được tìm thấy thường xuyên — ví dụ, ở đây trong Sáng thế Ký 25:8, 17; 49:29, 33; Phục truyền 32:50; và II Các Vua 22:20.
Liệu những cụm từ này có đơn thuần có nghĩa là, như nhiều học giả khẳng định, người trong Cựu Ước đã được an táng trong mộ gia đình hay không? Có phải thực sự lúc bấy giờ người ta không có khái niệm về thế giới bên kia?
Đến thời Áp-ra-ham, tuổi thọ của con người đã bị rút ngắn đáng kể, do những ảnh hưởng thể chất của Sự Sa Ngã, đến nỗi 175 tuổi được coi là “tuổi cao tác lớn”. Điều gì đã xảy ra sau khi Áp-ra-ham qua đời? Liệu ông chỉ đơn giản được chôn cất cùng các tổ tiên của mình, và câu chuyện kết thúc tại đó? Thật không may, quá nhiều người đã vội vàng kết luận rằng chính xác là như vậy.
Trên thực tế, cụm từ “được trở về với tổ tông mình” hay “trở về với tổ phụ mình” không thể có nghĩa là ông được chôn cất với người thân và tổ tiên của mình. Trong Sáng thế Ký 25:8–9, cách phân tích như vậy là không thể, vì chúng ta biết rằng không có người thân nào của Áp-ra-ham, ngoại trừ vợ ông, được chôn tại hang đá Mặc-bê-la (Machpelah).
Trong Cựu Ước, những người đã qua đời được coi là vẫn đang tồn tại. Sự kiện “được trở về với tổ tông mình” luôn được phân biệt với hành động chôn cất, được mô tả một cách riêng biệt (Sáng thế Ký 25:8–9; 35:29; 49:29, 31, 33). Trong nhiều trường hợp, chỉ có một tổ tiên trong mồ (I Các Vua 11:43; 22:40) hoặc không có ai cả (Phục truyền 31:16; I Các Vua 2:10; 16:28; II Các Vua 21:18), vì vậy việc “được trở về với tổ tông mình” không thể có nghĩa là được đặt trong huyệt mộ gia đình.
Người đọc không nên suy diễn điều gì đặc biệt từ việc sử dụng từ “Sheol” trong một số đoạn văn này. Trong tất cả 65 trường hợp xuất hiện từ “Sheol” trong Cựu Ước, nó chỉ đơn thuần ám chỉ “nấm mồ”, chứ không phải vùng bóng tối của thế giới bên kia. Tác giả của sách Hê-bơ-rơ trong Tân Ước ủng hộ quan điểm rằng các tổ phụ đã mong đợi một cuộc sống sau khi chết:
13 Hết thảy những người đó đều chết trong đức tin, chưa nhận lãnh những điều hứa cho mình; chỉn trông thấy và chào mừng những điều đó từ đằng xa, xưng mình là kẻ khách và bộ hành trên đất. 14 Những kẻ nói như thế, tỏ rõ rằng mình đương đi tìm nơi quê hương. 15 Ví thử họ đã tưởng đến nơi quê hương mà mình từ đó đi ra, thì cũng có ngày trở lại, 16 nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời; nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã sắm sẵn cho họ một thành.
Đây là một bằng chứng rõ ràng cho thấy rằng nhờ đức tin, những người đầu tiên được tham dự vào các lời hứa của Đức Chúa Trời đã hoàn toàn trông đợi được hưởng cuộc sống sau khi chết. Mặc dù sự mặc khải trọn vẹn về cuộc sống sau khi chết và sự sống lại của thân thể phải chờ đến sau này mới được tiết lộ trong Cựu Ước và Tân Ước, nhưng quan điểm phổ biến cho rằng các thánh đồ trong Cựu Ước hoàn toàn không biết gì về khả năng đó là một sai lầm xuất phát từ những định kiến.
Trong Sáng-thế Ký 17:8, Áp-ra-ham đã được Đức Chúa Trời ban cho một lời hứa: “Ta sẽ cho ngươi cùng dòng dõi ngươi xứ mà ngươi đương kiều ngụ, tức toàn xứ Ca-na-an, làm cơ nghiệp đời đời. Vậy, ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ.” Các giáo sĩ Do Thái đã lý luận rằng vì Áp-ra-ham chưa bao giờ thực sự hưởng sự ứng nghiệm của lời hứa này, ông sẽ được sống lại để chiếm hữu xứ đó.
Mặc dù lý luận này thật kỳ lạ, nhưng nó không sai lắm. Nó không phải là viển vông hơn lý luận của Chúa chúng ta khi nhắc nhở những người Sa-đu-sê—những người không tin vào sự sống lại—rằng Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết nhưng của người sống. Vì vậy, các tổ phụ không nên bị loại trừ khỏi hy vọng về sự sống lại (Ma-thi-ơ 22:23–32). Mối quan hệ của tín đồ với Đức Chúa Trời mang theo sự sống trong thể xác hiện tại và sự bất tử trong tương lai.
Nếu một số người phản đối rằng những khái niệm như vậy quá “phát triển” đối với thời kỳ sơ khai và tâm trí của người Cựu Ước, chúng ta chỉ cần nhắc nhau rằng sự sống sau khi chết đã là niềm đam mê bao trùm của văn hóa Ai Cập. Đó là một đời sống của những vật chất, với thể xác thực, rượu thật, phụ nữ và bài hát. Khái niệm đó đã được hình ảnh hóa trong các tượng đài kim tự tháp trong một nghìn năm trước khi Áp-ra-ham đến Ai Cập. Vậy thì, làm thế nào đời sống sau khi chết có thể là một khái niệm không thể có đối với ông?
Những bằng chứng khác về niềm tin vào một đời sống thực sau khi chết được đưa ra bởi những lời cảnh báo nghiêm khắc từ thời Môi-se về bất kỳ sự dính líu nào vào việc đồng bóng (necromancy), tức tà giáo liên lạc với người chết. Sẽ có hại gì nếu mày mò với một thứ không có thực tại? Ngay từ giữa thiên niên kỷ thứ hai T.C., người Y-sơ-ra-ên đã biết rằng đời sống sau khi chết là có thực, và vì vậy họ đã được cảnh báo không được tham gia vào bất kỳ việc liên lạc nào với những cá nhân đã ra đi khỏi thế gian này.
Áp-ra-ham đã chết và được chôn cất. Nhưng ông cũng đã gia nhập một cộng đồng những tín đồ đã ra đi trước. Không có chi tiết nào về bản chất của cộng đồng đó được đưa ra vào thời điểm này. Nhưng những cụm từ này, “được về cùng tổ tiên mình” và “đi về cùng tổ phụ mình,” không chỉ đơn thuần là một lối nói giảm nhẹ cho cái chết mà không có bất kỳ ý nghĩa thần học rõ ràng nào. Bằng chứng chứng minh điều ngược lại.
Xem thêm giải thích cho Sáng thế Ký 5:23-24; Gióp 19:23-27; Thi thiên 49:12; và Truyền đạo 3:19-31.