Liệu có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời không? Một mặt, một số đoạn Kinh Thánh cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã được nhìn thấy.
-
Sáng Thế Ký 32:30 chép: “Gia-cốp đặt tên chỗ đó là Phê-ni-ên (Peniel), vì nói rằng: Tôi đã thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi”
-
Xuất Ê-díp-tô Ký 24:9–10 cũng dạy rằng “Môi-se và A-rôn, Na-đáp (Nadab) và A-bi-hu (Abihu) cùng bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên… ngó thấy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.”
-
Xuất Ê-díp-tô Ký 33:11 lại gợi lên một cảm xúc thân mật khác: “Đức Giê-hô-va đối diện phán cùng Môi-se, như một người nói chuyện cùng bạn hữu mình.”
-
Sách Các Quan Xét 13:22 chép rằng Ma-nô-a (Manoah) đã nói với vợ mình: “Quả thật chúng ta sẽ chết, vì đã thấy Đức Chúa Trời!”
-
Trong Ê-sai 6:1 có chép: “Về năm vua Ô-xia (Uzziah) băng, tôi thấy Chúa ngồi trên ngôi cao sang, vạt áo của Ngài đầy dẫy đền thờ.”
-
Đa-ni-ên 7:9 khẳng định: “Ta nhìn xem cho đến chừng các ngôi đã đặt, và có Đấng Thượng cổ ngồi ở trên. Áo Ngài trắng như tuyết, và tóc trên đầu Ngài như lông chiên sạch. Ngôi Ngài là những ngọn lửa, và các bánh xe là lửa hừng.”
Tất cả những đoạn Kinh Thánh này dường như khẳng định rằng đôi khi Đức Chúa Trời có thể được nhìn thấy và đã từng được nhìn thấy.
Tuy nhiên, có những đoạn Kinh Thánh khác dường như khẳng định rằng không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời.
-
Đáng chú ý nhất trong số đó là Xuất Ê-díp-tô Ký 33:20.
-
Tương tự, Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:15 cảnh báo: “Các ngươi không có thấy một hình trạng nào trong ngày Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, từ nơi giữa lửa phán cùng các ngươi, tại Hô-rếp (Horeb).”
-
Còn rõ ràng hơn nữa là Giăng 1:18: “Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giãi bày Cha cho chúng ta biết.”
-
Một lần nữa trong Giăng 5:37: “Các ngươi chưa hề nghe tiếng Ngài, chưa hề thấy mặt Ngài.”
-
Thật vậy, Đức Chúa Trời được mô tả trong 1 Ti-mô-thê 1:17 là “Vua muôn đời, không hề hư nát, không thấy được,” Đấng “chẳng người nào từng thấy Ngài và cũng không thấy được” (1 Ti-mô-thê 6:16)
Để giải quyết vấn đề nan giải này, trước hết cần lưu ý rằng một số trường hợp “nhìn thấy” này thực chất là những thị kiến, chẳng hạn như trường hợp của Ê-sai và Đa-ni-ên. Trong những trường hợp khác, các thuật ngữ chỉ việc “nhìn thấy” lại nhấn mạnh tính trực tiếp của sự tiếp cận. Chẳng hạn, trong Xuất Ê-díp-tô Ký 24:9–11, Môi-se, A-rôn, Na-đáp, A-bi-hu và bảy mươi trưởng lão đã ăn uống trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng họ chỉ mô tả được đôi chân Ngài và nơi Ngài đứng. Rõ ràng họ không được phép nhìn thẳng vào khuôn mặt của Đức Chúa Trời. Trong một trường hợp khác, việc Gia-cốp tiếp cận Đức Chúa Trời được mô tả là “mặt đối mặt”, tương tự như mối quan hệ thân thiết sau này giữa Môi-se với Đức Chúa Trời.
Sự khác biệt này có thể xuất phát từ cách thuật ngữ “khuôn mặt của Đức Chúa Trời” được sử dụng trong các bối cảnh khác nhau. Trong một trường hợp, nó thể hiện sự thân thiết vượt xa những thị kiến hay sự hiện ra của Đức Chúa Trời trước đó; trong những trường hợp khác, nó ám chỉ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời vượt quá khả năng và hy vọng của chúng ta.
Những người khác, như Ma-nô-a và vợ ông, đã trải qua một sự hiện ra của Đấng Christ (christophany) hoặc sự hiện ra của Đức Chúa Trời (theophany), tức là sự hiện ra của Đấng Christ hoặc Đức Chúa Trời qua một thị kiến hoặc trong hình dạng trước khi nhập thể.
Lời cầu xin của Môi-se trong Xuất Ê-díp-tô Ký 33:18: “xin Ngài cho tôi xem sự vinh hiển của Ngài!” đã vượt quá những gì Đức Chúa Trời sẵn sàng ban cho vì lợi ích riêng của Môi-se. Dù vậy, Đức Chúa Trời vẫn cho phép “lòng nhân từ” của Ngài hiện ra trước mặt Môi-se và công bố “danh” của Ngài trước mặt ông.
Do đó, thay vì hiện ra trước mặt Môi-se hay mô tả ngoại hình của Ngài, Đức Chúa Trời đã cho Môi-se biết Ngài là ai. “Tên” của Đức Chúa Trời bao hàm bản chất, tính cách (Thi Thiên 20:1; Lu-ca 24:47; Ga 1:12), giáo lý (Thi 22:22; Ga 17:6, 26) và các tiêu chuẩn để sống công chính (Mi-chê 4:5). Rô-ma 9:15 trích dẫn Xuất Ê-díp-tô Ký 33:19 và áp dụng nó vào quyền tể trị của Đức Chúa Trời.
Sau khi Đức Chúa Trời tuyên bố danh xưng và quyền tể trị của Ngài, Ngài hứa cho Môi-se được chiêm ngưỡng một số khía cạnh thiêng liêng của Ngài. Những khía cạnh này là gì vẫn còn là chủ đề tranh luận — một cuộc tranh luận không cần thiết, nếu xét đến phạm vi ý nghĩa của từ “back” hay bối cảnh mà từ này được sử dụng.
Đức Chúa Trời đặt Môi-se vào một khe nứt trên vách đá — dường như là một khe nứt giống như hang động — rồi Ngài cho vinh quang của Ngài đi ngang qua. Vinh quang của Đức Chúa Trời trước hết và trên hết ám chỉ sức nặng vô cùng của sự hiện diện thực sự của Ngài. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời sẽ đến gần Môi-se về mặt không gian.
Nhưng Môi-se sẽ không thể chịu đựng nổi sự thánh khiết, rực rỡ và chân thực đến kinh ngạc khi trực tiếp chiêm ngưỡng vinh quang thuần khiết của chính Đức Chúa Trời. Thay vào đó, Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ Môi-se khỏi việc vô tình (và dường như là chết người) nhìn thấy vinh quang ấy. Do đó, trong một cách nhân cách hóa ấn tượng (việc mô tả thực tại của Đức Chúa Trời bằng những thuật ngữ hay phép so sánh mà loài người có thể hiểu được), Đức Chúa Trời đã bảo vệ Môi-se khỏi những tác động toàn diện của việc nhìn thẳng vào vinh quang của Ngài bằng cách đặt tay Ngài lên mặt Môi-se cho đến khi tất cả vinh quang của Ngài đã lướt qua.
Rõ ràng đây là một cách nói ẩn dụ, thể hiện qua hiệu ứng kép: Đức Chúa Trời vừa đi qua vừa đồng thời che chở Môi-se bằng “bàn tay” thiêng liêng của Ngài. Chỉ sau khi vinh quang, hay sự hiện diện, của Ngài đã đi qua, Đức Chúa Trời mới rút lại “bàn tay” đầy ân sủng và che chở của Ngài. Lúc đó, Môi-se mới được chứng kiến những gì Đức Chúa Trời đã cho phép.
Nhưng còn điều gì để Mô-sê nhìn thấy nữa? Các nhà dịch thuật cho rằng đó là “phía sau” của Đức Chúa Trời. Nhưng vì Đức Chúa Trời là Thần (Ê-sai 31:3; Giăng 4:24) và không có hình dạng, thì điều này ám chỉ điều gì? Từ “phía sau” cũng có thể được hiểu là “hệ quả” của vinh quang đã lướt qua.
Điều này sẽ phù hợp với bối cảnh cũng như phạm vi ý nghĩa của từ tiếng Hê-bơ-rơ được sử dụng. Môi-se không nhìn thấy vinh quang của Đức Chúa Trời trực tiếp, nhưng sau khi vinh quang ấy đã đi qua, Đức Chúa Trời đã cho phép ông nhìn thấy kết quả, tức là ánh sáng còn lại, mà sự hiện diện của Ngài đã tạo ra.
Xem thêm giải thích cho Xuất Ê-díp-tô ký 24:9; Giăng 1:18.