Bất cứ ai đọc danh sách mười tổ phụ trước Đại Hồng Thủy trong Sáng Thế Ký 5 và danh sách mười tổ phụ sau Đại Hồng Thủy trong Sáng Thế Ký 11 đều lập tức bị ấn tượng mạnh bởi tuổi thọ của các vị tổ phụ nầy. Làm thế nào những người nầy có thể sống lâu đến như vậy?
Hơn nữa, chúng ta không khỏi kinh ngạc trước độ tuổi mà họ vẫn còn có thể sinh con. Nô-ê đã hãnh diện làm cha khi mới ở tuổi 500 (Sáng Thế Ký 5:32)!
Vấn đề hòa giải giữa kết quả của các nghiên cứu khoa học và những khẳng định của Kinh Thánh không thể nào thách thức hơn. Những khẳng định về tuổi thọ phi thường và độ tuổi mà các vị tổ phụ nầy vẫn có thể sinh con đủ để dẫn đến sự hoài nghi Kinh Thánh ngay từ những chương đầu tiên.
Thực tế, những vấn đề do các gia phả trong Sáng Thế Ký 5 và 11 đặt ra khó khăn đến mức khét tiếng, đến nỗi chúng đã bị đem ra mổ xẻ suốt nhiều thế kỷ như những ví dụ điển hình nhất về sự bất khả thi về niên đại trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, lời giải cho những vấn đề được nêu lên ở đây lại nằm trong sự thấu hiểu phương pháp của người chép sử.
Vào tháng 4 năm 1890, William Henry Green, một giảng viên tại Princeton, đã viết một bài báo trên tạp chí Bibliotheca Sacra, chỉ ra một số nguyên tắc rõ ràng được các tác giả Kinh Thánh sử dụng khi biên soạn các gia phả. Những nguyên tắc đó bao gồm:
-
Sự rút gọn là quy tắc chung, bởi các tác giả không muốn làm nặng nề các trang viết của mình bằng nhiều tên tuổi hơn mức cần thiết.
-
Những chỗ khuyết trong gia phả là điều khá bình thường. Ví dụ, Ma-thi-ơ 1:8 đã lược bỏ ba tên giữa Giô-ram và Ô-xia (U-xi-gia); cụ thể là A-cha-xia (2 Các Vua 8:25), Giô-ách (2 Các Vua 12:1) và A-ma-xia (2 Các Vua 14:1). Trong câu 11, Ma-thi-ơ lược bỏ Giê-hô-a-kim (2 Các Vua 23:34). Thực tế, trong Ma-thi-ơ 1:1, toàn bộ hai thiên niên kỷ được tóm lược chỉ trong hai bước nhảy vọt: “Đức Chúa Jêsus Christ, con cháu Đa-vít [khoảng 1000 TCN], con cháu Áp-ra-ham [khoảng 2000 TCN].”
-
Khoảng thời gian của một “thế hệ” trong Kinh Thánh dài hơn hai mươi đến ba mươi năm như cách hiểu của chúng ta. Trong tiếng Sy-ri, nó tương đương tám mươi năm. Thường trong ký thuật về cuộc Xuất Ê-díp-tô, một thế hệ kéo dài từ 100 đến 120 năm.
-
Ý nghĩa của các từ “sinh ra” (begat), “con của”, “cha của” và thậm chí “sinh con trai” thường mang những sắc thái đặc biệt, tùy thuộc vào ngữ cảnh. “Sinh ra” thường chỉ đơn thuần có nghĩa là “trở thành tổ tiên của”. “Là cha của” thường có nghĩa là ông nội hoặc cụ. Điểm mấu chốt là nhân vật quan trọng tiếp theo thuộc dòng dõi của người nam được gọi là “cha” trong văn bản.
Bài học mang tính gây dựng và giáo huấn sâu sắc nhất có thể được rút ra từ việc Kê-hát xuống Ai Cập (Sáng Thế Ký 46:6–11) vào khoảng 430 năm (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:40) trước cuộc Xuất hành. Giờ đây, nếu Môi-se (một người thuộc dòng dõi Kê-hát) 80 tuổi vào thời điểm diễn ra cuộc Xuất hành (Xuất Ê-díp-tô Ký 7:7), và không có những khoảng trống thế hệ nào (như những nguyên tắc đã nêu ở trên gợi ý) được hiểu ngầm ở đây, thì người ông của Môi-se đã có tới 8.600 hậu duệ trong suốt cuộc đời của Môi-se. Dù điều đó có vẻ đáng kinh ngạc, nhưng đây mới thực sự là cú sốc: 2.750 người trong số 8.600 hậu duệ đó là nam giới trong độ tuổi từ 30 đến 50 (Dân Số Ký 3:19, 27–28, 34; 4:36)! Thật khó lòng tin được rằng các tác giả Kinh Thánh lại ngây thơ đến mức ấy.
Hình thức mà Sáng Thế Ký 5 và 11 sử dụng, với một vài ngoại lệ, là một công thức khuôn mẫu nêu lên tuổi của tổ phụ khi sinh con trai, số năm ông sống sau khi sinh người con trai đó, và sau đó là tổng số năm ông sống cho đến khi qua đời. Chính câu hỏi về vai trò và ý nghĩa của những con số này thu hút sự chú ý của chúng ta ở đây.
Bởi vì Xinh-ba (Zilpah) được chép là đã “sinh ra” (yālaḏ̄) các cháu của mình (Sáng Thế Ký 46:18) và Bi-la (Bilhah) cũng được nói là “sinh ra” (yālaḏ) các cháu của bà (Sáng Thế Ký 46:25), nên rõ ràng một cách sử dụng hợp lệ những con số này trong các gia phả hoàn toàn có thể mang ý nghĩa rằng B là một hậu duệ xa của A. Trong trường hợp này, số tuổi của A là tuổi khi sinh ra người con (không được nêu tên), người mà từ dòng dõi đó, B được sinh ra (cách nhiều đời).
Những số tuổi được đưa ra cho “người cha” khi “người con” được sinh ra phải là những năm thực tế, như chúng ta sẽ thấy ngay sau đây. Sự nhập nhằng này không nằm ở chỗ cung cấp số năm thực tế khi người cha sinh con; thay vào đó, nó nằm ở chỗ tên của người hậu duệ đáng chú ý tiếp theo được xướng lên thay vì người con trai kế cận. Các số tuổi được đưa ra đóng vai trò như một chỉ báo cho thực tế là những hậu quả của Sự Sa Ngã vào tội lỗi chưa ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sinh sản của nhân loại như trong những thời đại gần đây. Tất nhiên, cùng một luận điểm như vậy cần được áp dụng khi xem xét tuổi thọ của nhân loại. Sự thật mà bản ghi chép muốn nhấn mạnh là sự chết chóc đầy bi thương của nam giới và phụ nữ là hệ quả của tội lỗi trong Vườn Ê-đen. Điệp khúc lặp đi lặp lại “và người qua đời” vang vọng từ các trang sách như tiếng chuông tang lễ trầm hùng và trang nghiêm.
Những nỗ lực nhằm làm cho các con số trở nên dễ chấp nhận hơn đã bị bác bỏ bởi chính sức nặng trong lập luận của chúng hoặc do thất bại trong việc xem xét tất cả dữ liệu trong một lý thuyết duy nhất. Một nỗ lực bất thành là coi những cái tên này là tên của các bộ tộc thay vì tên của các cá nhân. Điều này có vẻ hợp lý cho đến khi chúng ta bắt gặp Hê-nóc, người đã được tiếp lên trời. Thật khó mà hợp lý khi ngụ ý rằng cả bộ tộc Hê-nóc đã được tiếp lên trời, vì vậy chúng ta chỉ còn lại kết luận rằng những cái tên này thực sự được dùng để chỉ các cá nhân.
Một cách biện minh khác, cũng thất bại không kém, cho rằng “năm” ở đây đại diện cho một hệ thống đếm tháng, hoặc đại loại như vậy. Theo quan điểm này, số năm sẽ được chia đi một hệ số 10 hoặc 12. Theo đó, tổng số 930 năm của A-đam có thể được rút xuống còn 93 hoặc 77 năm, một con số hợp lý và dễ tin hơn. Lý thuyết này vấp phải trở ngại khi Na-cô trở thành cha của Tha-rê ở tuổi 29 trong Sáng Thế Ký 11:24. Điều này có nghĩa là ông thực sự đã sinh con khi mới 2,9 hoặc 2,4 tuổi! Trong trường hợp đó, chúng ta chẳng khác nào ’tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa’. Thật không may cho lý thuyết này, không có bất kỳ ví dụ nào trong Kinh Thánh mà từ “năm” mang ý nghĩa gì đó ngắn hơn năm mặt trời mà chúng ta quen dùng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày.
Một lời cảnh báo cuối cùng thiết nghĩ là rất cần thiết: đừng cộng dồn số năm của các tổ phụ này trong Sáng Thế Ký 5 và 11 rồi mong đợi sẽ tìm ra niên đại của Kinh Thánh cho thời điểm khai sinh nhân loại. Lý do cho lời cảnh báo này rất rõ ràng: Kinh Thánh không bao giờ cộng những con số này lại. Không phải là Kinh Thánh không bao giờ cho chúng ta tổng số năm — chúng ta có 430 năm nô lệ tại Ai Cập trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12:40 và 480 năm trong 1 Các Vua 6:1. Nhưng trong Sáng Thế Ký 5 và 11, tác giả không sử dụng những con số của mình cho mục đích này; thì chúng ta cũng không nên làm vậy.
Những người đã bất chấp nguyên tắc quan sát đơn giản này đã nghiêm túc lập luận rằng nhân loại được tạo dựng vào ngày 24 tháng 10, năm 4004 TC, lúc 9:30 sáng, theo giờ kinh tuyến 45. Là những học giả nghiên cứu cẩn thận đến từ Cambridge, nhà hoài nghi William Brewster đã dí dỏm nhận xét rằng họ đã không dám nói chính xác hơn nữa về thời điểm nhân loại được sinh ra!
Mốc thời gian xác thực sớm nhất mà chúng ta có thể ấn định cho bất kỳ nhân vật nào trong Kinh Thánh là khoảng năm 2100 TC cho sự ra đời của Áp-ram. Việc xác định các ngày tháng theo lịch Julius cho bất cứ sự kiện nào trước thời điểm đó là điều bất khả thi với nguồn dữ liệu hiện có trong tầm tay chúng ta.
Công cuộc sáng tạo vũ trụ được ghi lại trong Sáng Thế Ký 1:1 là “ban đầu”. Về điều này, chúng ta có thể chắc chắn như chính sự mặc khải. Sự sáng tạo A-đam diễn ra sáu “ngày” sau đó, nhưng cần phải lưu ý rằng ngay trong những chương đầu của sách Sáng Thế Ký, Kinh Thánh sử dụng từ “ngày” với ba ý nghĩa khác nhau:
-
ánh sáng ban ngày (Sáng Thế Ký 1:5)
-
một ngày hai mươi bốn giờ (Sáng Thế Ký 1:14)
-
một kỷ nguyên hoặc thời đại, giống như cách chúng ta dùng từ này khi nói về “thời” của xe ngựa hoặc “thời đại” của Abraham Lincoln (Sáng Thế Ký 2:4; hãy so sánh cụm từ “In the day” trong bản RSV với “When” trong bản NIV).
Tôi sẽ nghiêng về thuyết Ngày-Thời Đại (day-age theory), khi xem xét tất cả những sự kiện phải diễn ra vào “ngày” thứ sáu theo ký thuật của sách Sáng Thế Ký. Nhân tiện, quan điểm Ngày-Thời Đại này đã là quan điểm chiếm đa số trong Hội Thánh từ thế kỷ thứ tư, chủ yếu qua ảnh hưởng của Thánh Augustine.
Vậy A-đam thực sự đã sống 930 năm. Những người con được ghi là của ông có thể là các con trai ruột thịt hoặc có thể cách đó từ hai đến sáu thế hệ, nhưng vẫn nằm trong cùng một mạch gia phả.
Xem thêm giải thích cho Vì sao gia phả trong Kinh Thánh không khớp nhau? và Số liệu trong Cựu Ước có sai sót không?.